Bệnh xơ cứng bì có lây không?

0 5

Mặc dù xơ cứng bì khu trú thường chỉ gây mất thẩm mỹ thông thường, nhưng xơ cứng bì hệ thống tiến triển thường gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng và có thể dẫn tới tử vong. Thế nhưng không phải ai cũng biết bệnh xơ cứng bì có lây không? Điều đó sẽ được giải đáp qua bài viết dưới đây của chúng tôi.

1. Bệnh xơ cứng bì là gì?

Bệnh xơ cứng bì, tên gọi đầy đủ trong y học là bệnh xơ cứng bì hệ thống tiến triển, là một bệnh tự dị ứng không rõ căn nguyên, đặc trưng bởi tình trạng dầy và cứng da do sự tích luỹ các chất tạo keo, liên quan đến nhiều cơ quan trong cơ thể bao gồm ống tiêu hoá, tim, phổi, thận và mạch máu. Như tên gọi của bệnh, xơ cứng bì thường tiến triển nặng dần trong nhiều năm.

2. Nguyên nhân gây bệnh của xơ cứng bì? Bệnh xơ cứng bì có lây không?

Mặc dù các nhà khoa học chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh của xơ cứng bì, nhưng để trả lời cho câu hỏi bệnh xơ cứng bì có lây không thì có thể khẳng định rằng bệnh xơ cứng bì không phải là một bệnh lây nhiễm hoặc di truyền từ bố mẹ sang con cái.

Người ta nghi ngờ rằng bệnh xơ cứng bì gây ra do sự phối hợp của nhiều yếu tố:

  • Hoạt tính bất thường của hệ miễn dịch: trong xơ cứng bì, hệ miễn dịch kích thích các tế bào xơ non sản xuất ra quá nhiều chất tạo keo, các chất này lắng đọng xung quanh các tế bào, mạch máu, nội tạng và gây tổn thương xơ hoá tại nơi lắng đọng.
  • Cấu trúc gen: một số gen có vai trò quan trọng trong sự phát sinh và tiến triển của bệnh xơ cứng bì.
  • Các kích thích trong môi trường: việc tiếp xúc với một số yếu tố trong môi trường như các loại siêu vi trùng, các chất keo hoá học và một số loại dung môi hữu cơ trong một thời gian kéo dài có thể gây ra xơ cứng bì.
  • Yếu tố nội tiết: trong nhóm tuổi từ 30 – 55, tỷ lệ xơ cứng bì ở nữ giới cao hơn ở nam giới 7 – 12 lần, do đó người ta nói đến vai trò của các hormone sinh dục nữ, đặc biệt là estrogen, trong sự phát sinh của bệnh xơ cứng bì.

3. Có mấy thể bệnh xơ cứng bì?

Dựa vào mức độ của tổn thương da, xơ cứng bì được chia làm 2 thể là xơ cứng bì khu trú và xơ cứng bì lan toả.

Trong thể thứ nhất, tổn thương da khu trú ở mặt và ngọn chi, tiến triển chậm và ít có tổn thương nội tạng nặng, biến chứng nguy hiểm nhất là tăng áp động mạch phổi và xơ đường mật. Thể thứ 2 thường có tổn thương da trên diện rộng ở mặt, gốc chi và thân mình, kèm theo có tổn thương ở đường tiêu hoá, tim, thận và phổi.

4. Ai có thể bị mắc xơ cứng bì?

Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi giới và chủng tộc, nhưng hay gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi từ 30 – 50, bệnh cũng thường xảy ra ở người Châu Á, châu Mỹ, châu Phi hơn so với người châu Âu.

5. Những biểu hiện nào hay gặp trong xơ cứng bì?

Triệu chứng của xơ cứng bì rất đa dạng và phức tạp, người bệnh thường thấy mệt mỏi, chán ăn, gầy, sút cân, sốt nhẹ, tím buốt đầu chi và đau mỏi cơ khớp trong vài tuần đến vài tháng trước khi xuất hiện đầy đủ các triệu chứng. Triệu chứng ở da là những biểu hiện đặc trưng của xơ cứng bì, gặp ở hầu hết bệnh nhân và thường là lý do khiến người bệnh phải đi khám.

Da bị dầy cứng làm cho bề mặt da mất nếp nhăn, bộ mặt vô cảm, người bệnh khó há miệng, hạn chế vận động, da khô và hay bị ngứa, có thể kèm theo các đám rối loạn sắc tố loang lổ. Rất nhiều bệnh nhân có khô mắt, khô miệng, sưng đau khớp nhỡ và khớp lớn. Chứng co thắt mạch đầu chi (hiện tượng Raynaud) với biểu hiện xanh tím hoặc tái nhợt, tê buốt đầu chi cũng rất thường gặp trong xơ cứng bì, nếu không được điều trị, đầu chi sẽ bị hoại tử.

Các triệu chứng do tổn thương nội tạng thường rất đa dạng và nặng nề, xơ hoá niêm mạc đường tiêu hoá gây nuốt nghẹn, đầy bụng, rối loạn hấp thu, tổn thương ở phổi gây ho, đau ngực, khó thở, ở tim gây rối loạn nhịp tim, tức ngực, suy tim, ở thận gây phù, viêm cầu thận, suy thận, cao huyết áp. Các triệu chứng của xơ cứng bì thường tiến triển nặng dần trong 3 – 5 năm đầu tiên, sau đó bệnh sẽ đi vào giai đoạn ổn định trong nhiều năm.

6. Làm thế nào để chẩn đoán được xơ cứng bì?

Thông qua việc hỏi diễn biến bệnh và thăm khám người bệnh, các thầy thuốc có thể tìm ra được các triệu chứng của xơ cứng bì, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh. Nói chung, chẩn đoán xơ cứng bì thường khá dễ dàng trong các trường hợp có dầy cứng da điển hình. Để khẳng định chẩn đoán, người thầy thuốc nên tiến hành xét nghiệm tìm các tự kháng thể hay gặp trong xơ cứng bì (kháng thể kháng nhân, kháng thể kháng Scl-70 và kháng thể kháng centromere) hoặc sinh thiết da.

7. Điều trị xơ cứng bì như thế nào?

Hiện nay, điều trị xơ cứng bì vẫn là một thách thức lớn đối với y học do sự phức tạp, đa dạng về triệu chứng và hiệu quả không rõ rệt của các thuốc kiểm soát bệnh. Nhằm mục tiêu kiểm soát dài hạn xơ cứng bì, rất nhiều thuốc đã được thử nghiệm nhưng đều không đem lại kết quả khả quan do kém hiệu quả hoặc độc tính quá cao, chỉ có D- Penicillamine, một loại thuốc điều hoà miễn dịch chứng minh hiệu quả làm mềm da và giảm tỷ lệ tử vong sau 2 – 5 năm sử dụng. Hiện nay, một số thuốc mới vẫn đang tiếp tục được thử nghiệm như Interferon gamma…

Với hiệu quả không rõ rệt của các thuốc kiểm soát bệnh, điều trị triệu chứng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với xơ cứng bì. Do da khô và hay bị ngứa nên người bệnh xơ cứng bì cần tránh tắm nhiều và nên dùng các loại kem dưỡng da, làm ẩm da. Với chứng co thắt mạch đầu chi, người bệnh phải lưu ý giữ ấm, đặc biệt 2 bàn tay, tránh tiếp xúc với khói thuốc lá, dùng các thuốc giãn mạch như nifedipine, prazosin, nitroglycerin. Khi có loét đầu chi, cần vô trùng tốt vùng tổn thương để tránh bị nhiễm trùng.

healthcare, hospital and medicine concept – doctor and patient measuring blood pressure

Biểu hiện sưng đau khớp thường đáp ứng tốt với các thuốc chống viêm giảm đau hoặc corticoid liều thấp. Những bệnh nhân có trào ngược thực quản nên được dùng các thuốc ức chế tiết dịch vị như omeprazole và tránh sử dụng các thuốc gây hại cho dạ dày.

Biểu hiện chướng bụng, ỉa chảy, giảm hấp thu do rối loạn nhu động ruột non gây loạn khuẩn đường ruột cần được điều trị bằng các thuốc kháng sinh phổ rộng như ampicillin, trimethoprim-sulfamethoxazole, metronidazole mỗi đợt 2 tuần. Triệu chứng do tổn thương các nội tạng như suy tim, rối loạn nhịp tim, xơ phổi, cao huyết áp, suy thận cũng được điều trị giống như trong các bệnh lý khác. Nói chung, bệnh hiếm khi tự khỏi, tỷ lệ sống trên 10 năm khoảng 50 – 60%.

Như vậy, các bạn có thể hoàn toàn yên tâm về vấn đề Bệnh xơ cứng bì có lây không bởi đây không phải là một căn bệnh mang tính truyền nhiễm. Thế nhưng, khi thấy bản thân có những dấu hiệu của bệnh bạn nên đi khám để nhận được lời khuyên và hướng điều trị từ bác sĩ chuyên khoa.

Khám và điều trị xơ cứng bì ở đâu?

Tại Hà Nội

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trực thuộc Đại học Y Hà Nội, được thành lập năm 2007. Đây là bệnh viện Đa khoa với đội ngũ thầy thuốc là các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, Bác sĩ … có trình độ và tay nghề cao, đảm nhận công tác khám, điều trị bệnh và tư vấn sức khỏe các chuyên khoa khác nhau. Bệnh viện là nơi triển khai các kỹ thuật mới, cập nhật và hiện đại trong chẩn đoán, can thiệp và điều trị các loại bệnh lí trong các trường hợp thường gặp, cấp cứu và hiểm nghèo. Đồng thời, bệnh viện là nơi triển khai mô hình kết hợp chặt chẽ giữa điều trị và đào tạo, giảng dạy và chuyển giao kỹ thuật cho các đối tượng sinh viên, học viên sau đại học và các bác sĩ của các cơ sở y tế của mọi miền trên cả nước.

Bệnh viện Đại học Y với đội ngũ điều dưỡng, kĩ thuật viên và nhân viên bệnh viện được đào tạo với trình độ và tay nghệ vững vàng, có trách nhiệm, luôn luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ, có thái độ tiếp đón ân cần, thân thiện, nhẹ nhàng, phục vụ tốt các bệnh nhân trong mọi hoàn cảnh. Bệnh viện có 5 phòng mổ theo tiêu chuẩn quốc tế có thể mổ các bệnh thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu, chấn thương, chỉnh hình,sản phụ khoa, Tai Mũi Họng, Mắt, Răng Hàm Mặt, phẫu thuật thẩm mỹ…phẫu thuật viên là các Giáo sư, Tiến sĩ có kinh nghiệm của trường và các bệnh viện Trung Ương.

Đặc biệt bệnh viện có hệ thống mổ nội soi hiện đại có thể mổ cho bệnh nhân bị bệnh cần phẫu thuật thuộc tất cả các chuyên khoa. Khoa Ngoại với 50 giường hậu phẫu và điều trị ngoại đủ để phục vụ chăm sóc bệnh nhân trước và sau phẫu thuật. Trung tâm Nội soi chẩn đoán và can thiệp của bệnh viện là một trung tâm lớn nhất nước về nội soi có thể thực hiện được những kỹ thuật cao phục vụ cho chẩn đoán sớm nhiều bệnh trong đó có ung thư. Các thủ thuật nội soi can thiệp như gắp giun, lấy sỏi, cắt polyp, cầm máu ổ loét, cắt búi trĩ đã và đang được thực hiện thường quy tại bệnh viện.

Địa chỉ: 1 Tôn Thất Tùng, phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 024 3574 7788

Giờ làm việc:

  • Thứ hai – Thứ sáu: từ 06:30 đến 12:00 và từ 13:30 đến 16:30
  • Thứ Bảy: từ 06:30 đến 12:00

Bệnh viện Bạch Mai

Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa lớn nhất khu vực miền Bắc. Tại quyết định số 481 BYT/QĐ ngày 18 tháng 6 năm 1980 Bộ Y tế đã thành lập Khoa Dị ứng miễn dịch lâm sàng Bệnh viện Bạch Mai và giao tiến sĩ Nguyễn Năng An tổ chức, đồng thời với việc ra đời bộ môn Dị ứng Đại học Y Hà Nội (tháng 11 năm 1980). Với một phòng khám chuyên khoa dị ứng và một bệnh phòng 30 giường điều trị nội trú cán bộ của trung tâm Dị ứng miễn dịch lâm sàng đã có nhiều cố gắng và đạt kết quả rõ rệt trong việc hoàn chỉnh các phương pháp phát hiện và điều trị các thể lâm sàng của dị ứng thuốc. Bệnh viện được trang bị hệ thống thiết bị kỹ thuật y tế hiện đại và đội ngũ bác sĩ giỏi nổi tiếng trên toàn miền Bắc. Đây là địa chỉ được người dân đánh giá cao trong thăm khám và điều trị bệnh nên bạn có thể an tâm thực hiện điều trị bệnh ở đây an toàn và hiệu quả.

Địa chỉ: 78 giải phóng, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội.

Số điện thoại: 0248 693 781.

Tại TP. Hồ Chí Minh

Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1994, Phòng khám Đa khoa Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh ra đời và năm 2000 Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 3639/2000 QĐ-BYT. Đến nay, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh là một bệnh viện công lập đa khoa hạng I hoạt động theo mô hình tiên tiến kết hợp Trường – Viện, gồm 3 cơ sở, 11 phòng chức năng, 27 Khoa Lâm sàng và Cận Lâm sàng, 8 phân khoa và các đơn vị nghiên cứu chuyên khoa sâu. Bệnh viện hiện có 1000 giường bệnh, 66 phòng khám ngoại trú với đầy đủ các chuyên khoa sâu và 17 phòng mổ được trang bị hiện đại: nhiều máy phẫu thuật nội soi, kính hiển vi phẫu thuật dùng mổ u tủy, nối mạch máu thần kinh, phẫu thuật tạo hình, được trang bị các phương tiện chẩn đoán trong khi mổ như máy X quang di động, siêu âm trong mổ, các phương tiện cầm máu hiện đại như dao cắt đốt siêu âm, dao cắt đốt laser, bệnh viện đầu tư dao cắt đốt Cusa để mổ cắt gan và tương lai phục vụ cho mổ ghép gan.

Bệnh viện có đội ngũ chuyên môn Bệnh viện là những Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ đầu ngành, những người không chỉ giỏi về lý thuyết y khoa mà còn giàu kinh nghiệm trong thực hành điều trị cùng hệ thống trang thiết bị hiện đại, Bệnh viện luôn tiếp cận nhanh và ứng dụng các thành tựu y học tiên tiến trên thế giới trong việc khám chữa bệnh. Bệnh viện có đầy đủ các chuyên khoa sâu: Tim mạch, Thần kinh, Nội tiết, Tiêu hóa, Gan mật, Thận niệu, Xương khớp, Mạch máu – Lồng ngực, Hô hấp, Phụ sản, Mắt, Tai mũi họng, Da liễu, Hậu môn – Trực tràng.

Từ khi thành lập đến nay, Bệnh viện đã khám và chữa bệnh cho trên 16 triệu lượt bệnh nhân. Việc khám và điều trị bệnh bệnh nhân đạt kết quả ngày càng cao, thời gian điều trị ngắn, từ đó tạo được sự tín nhiệm của bệnh nhân trong nước cũng như của nước bạn Campuchia. Bệnh viện đã và đang áp dụng những kỹ thuật mới, những phương pháp mới trong chẩn đoán và điều trị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh, sánh ngang tầm các nước trong khu vực và trên thế giới.

Điện thoại: 0283 8554 269

Địa chỉ: 215 Hồng Bàng, phường 11, quận 5, TP Hồ Chí Minh

Bệnh viện 175 – Bộ Quốc phòng

Bệnh viện 175 ra đời ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (26/5/1975), từ 3 bệnh viện: K116, K72, K59 và một số đội điều trị, với tên gọi ban đầu là Viện Quân y 175 (là số hiệu hợp thành của 3 số đầu của các đơn vị) phát triển thành Bệnh viện 175 ngày nay. Viện 175 hình thành làm nhiệm vụ tiếp nhận, cứu chữa thương binh, bệnh binh và giải quyết di chứng vết thương chiến tranh, từng bước xây dựng thành bệnh viện tuyến cuối của Quân đội phía Nam (1/5/1975 – 24/9/1977).

Điện thoại: 096 983 10 10

Địa chỉ: 786 Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh

Bình luận
Loading...