[Dota 2] Kunkka – Đô đốc hải quân

0 5

Truyền thuyết về Kunkka

Là Đô đốc của Claddish Navy (Hải quân xứ Cladd) hùng mạnh, Kunkka được giao nhiệm vụ bảo vệ các hòn đảo của quê hương khi lũ quỷ dữ của xứ Cataract thực hiện 1 cuộc đánh úp vào lãnh địa của con người.

Sau nhiều năm với những cuộc tấn công nhỏ, dần dần các cuộc tấn công ngày càng táo tợn và tàn khốc, Demon Fleet (Hạm đội quỷ) cuối cùng đã tung hết tất cả chiến thuyền ăn thịt của mình vào Trembling Isles (Hòn đảo rung động). Trong tình thế tuyệt vọng, các pháp sư Suicide-Mages (Pháp sư cảm tử) của Cladd đã tiến hành nghi thức tối thượng của họ đó là triệu hồi hàng loạt các linh hồn tổ tiên về bảo vệ hạm đội và chống lại lũ quỷ. Điều này chỉ vừa đủ để cầm chân địch. Khi lũ quỷ đánh hạ lần lượt từng chiến thuyền của Kunkka, ông tạm được an ủi khi thấy phép thuật tổ tiên mình cũng nhấn chìm hạm đội của chúng.

Nhưng khi trận đánh giữa 3 thế lực quỷ dữ, con người và các linh hồn tổ tiên đang gay cấn đỉnh điểm, thì 1 thế lực thứ tư ở đáy biển sâu thẳm đã bị đánh thức. Xung quanh những chiến thuyền còn sót lại bỗng nổi lên những con sóng cao như những toà tháp, và giữa trận chiến ấy đột nhiên Maelrawn the Tentacular xuất hiện (Thần Xúc Tu mà Tidehunter thờ phụng). Những xúc tu của hung thần len lỏi giữa những con tàu, trói cả lũ quỷ và con người lại với nhau, hô mưa gọi gió biến chiến trường thành bãi hỗn loạn. Ko ai có thể khẳng định điều gì đã xảy ra giữa cơn bão sau đó. Xứ Cataract gào thét trong khi lũ quỷ cư dân của nó tìm cách trốn chạy hết.

Kunkka giờ chỉ còn là đô đốc của 1 chiến thuyền, một con thuyền ma liên tục vang lên những tiếng ai oán của những giây phút cuối đời nó. Ai cũng phỏng đoán rằng ông ta đã chết trong trận chiến đó. Ngay cả Tidehunter, kẻ đã triệu hồi Mealrawn, cũng ko dám chắc.


Thông tin thêm

– Phe phái: Claddish Navy
– Nơi chốn: Cladd, Trembling Isle
– Kunkka là cựu đô đốc của Claddish Navy. Ông ấy xuất thân là một thủy thủ săn cá voi bằng những cây lao móc. Là một chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, ông ta đã từng tham gia vào trận chiến Port Mignin (Cảng Mignin), cũng như trận chiến đầu tiên và thứ hai tại Trembling Isles. Ông ta cầm thanh kiếm huyền thoại Tidebringer (kẻ mang đến thủy triều), thanh kiếm chứa linh hồn lạc lối của 1 người Cladd.
– Sau trận chiến thứ hai ở Trembling Isle, Kunkka đã dạt vào một bờ biển ở xứ Keen. Nơi đó, ông đã tiếp tục sự nghiệp chỉ huy hạm đội với các thủy thủ đoàn là người tộc Keen. Có tin đồn rằng, Kunkka buộc các nghệ nhân Keen chế tác cho ông ta một thanh kiếm mới từ những đồ đạc trôi dạt của những con quỷ xứ Cataract đã dạt vào bờ cùng ông ấy. Tộc Keen thể hiện sự quan tâm rất cao đến Kunkka, đưa cả chìa khoá cổng kinh thành của họ. Ít nhất một con tàu trong hạm đội mới của ông ta có tên là Majestic Leviathan, một con tàu lớn mang theo vô số kho báu.
– Một tin đồn khác chưa được xác nhận đó là Kunkka đã tách đôi biển bằng thanh đao Neptunian Sabre (Hải Vương Thần Đao), ông ta đi xuống và tìm thấy Maelrawn, và chặt đứt một cái xúc tu của hung thần.
– Dù Kunkka ko phải là cướp biển, nhưng ông ta có thói quen chôm chỉa những đồ vật quý giá mỗi khi có cơ hội.
– Người ta thường hay suy đoán Kunkka có còn sống hay ko, hay đã trở thành một bóng ma sau trận chiến tại Trembling Isle. Cũng có thể Kunkka là bóng ma nên nghi thức của các Suicide-Mages đã giúp cho ông ta và con tàu của mình sống sót sót dưới dạng hồn ma sau khi chúng bị phá hủy trên biển.
– Kunkka đã nhiều lần bị ghẻ lạnh.
– Người ta cho rằng Kunkka biết về “những bí mật khủng khiếp” dưới đáy biển, và chỉ có ông ta mới có thể mở bằng chìa khoá.
– Kunkka đôi khi được thủy thủ đoàn gọi là “Tay áo màu lục”
– Kunkka từng được 1 công chúa sống ở Isle of Songs (Hòn đảo của những bài ca) tặng cho 1 cái đai lưng khá tốt. Mối quan hệ này ko rõ ràng.
– Sự đối đầu nổi tiếng giữa Kunkka và Tidehunter bắt nguồn từ sự kiện tại Trembling Isle, nơi mà Maelrawn được triệu hồi để đánh chìm hai hạm đội đang giao chiến. Mặc dù là kẻ thù, nhưng Kunkka vẫn thể hiện sự tôn trọng đối với Tidehunter và đôi khi còn than thở trước cái chết của hắn.
– Kunkka đã rất tức giận Mireska (DW), người mà ông ta đổ lỗi cho việc hạm đội bị đánh chìm tại Trembling Isle. Mireska đã lẻn lên con tàu của Kunkka để tìm kiếm đồ giá trị, và có liên quan gì đó đến cuộc chiến. Vì hành động của mình, cô ta giờ đã bị Kunkka săn đuổi.
– Kunkka có vẻ thích uống rượu rum và dường như Alchemist đã từng lấy trộm 1 bình rượu của ông ta.
– Khi còn trai trẻ, Kunkka đeo quân hàm chuẩn úy. Ông ta rất có chí tiến thủ và mong muốn tăng quân hàm. Trong những ngày đầu, ông ta đã nghe về những câu chuyện về các con cá mập lớn dài hơn cả một con tàu, chúng săn đuổi các con tàu và ăn thịt các thủy thủ. Khi ông ta lớn tuổi hơn và quân hàm đã tăng, ông đã nhận được thêm các nút viền vàng biểu thị địa vị mới của mình. Như một người trưởng thành, ông đã săn lùng và giết chết những con cá mập lớn mà ông đã từng nghe kể khi còn trẻ để xác nhận rằng những truyền thuyết ấy là có thật.


Những câu thoại trong game

Đồng đội gặp Kunkka:

Legion Commander: Bộ ria đẹp đó.
Monkey King: Kunkka ơi, ta ko có ý thô lỗ đâu, nhưng ngươi có cái gì đó trên trán kìa.
– Tidehunter: Kunkka, ta cứ tưởng là đã bỏ lại ngươi dưới đáy biển rồi chứ.

Kẻ địch giết Kunkka:

– Alchemist: Này mày có nghĩ là Kunkka biết ta đã chôm bình rượu rum của hắn ko? (alchemist hỏi con ogre)
Bane: Ngươi có thấy hạm đội của ngươi đang chìm dần ko?
– Brewmaster: Rượu rum dành cho mấy tên ẻo lả.
– Broodmother: Kunkka, đó là vì những con cua nhện mà ngươi đã luộc lên.
Earth Spirit: Chiến thuyền của ngươi đã mắc cạn
– Legion Commander: Và ngươi tự xưng là đô đốc ư?
Luna: Au hau hau hau hau!
– Monkey King: Hooo! ngươi nên bị nhấn chìm cùng con tàu của ngươi, tên cướp biển.
Naga Siren: Ngươi và hải quân gì cơ, Kunkka?
Slark: Ta đã luôn ở bên dưới ngươi, chọc 1 lỗ vào thân tàu của ngươi.
Storm Spirit: Dưới cơn bão này thì ko có bến cảng nào là an toàn đâu, Kunkka
– Storm Spirit: Đô đốc nhưng ko đô con. Hưm hưm hưm hưm (Admiral, but not admirable. Hm hm hm hm.)
– Tidehunter: Đô đốc Kunkka chết như 1 con chó.
– Tidehunter: Chết trong chất nhờn đi, Đô đốc Thở dốc.
– Tidehunter: Chiến thuyền của ngươi đâu rồi, Kunkka.
Tiny: Ta đã chọc một lỗ trên thân tàu của ngươi sao?
Undying: Con vẹt cũ của ngươi đâu rồi?
Ursa: Biển cả là lãnh thổ của ngươi Kunkka, nhưng rừng rậm là của ta.

Kẻ địch bị Kunkka giết:

– Tidehunter: Ta còn chưa trả thù đâu, Kunkkaaa!
– Tidehunter: Kunkkaaaaaaaa!

Kunkka nói khi giết các kẻ địch sau:

– Tidehunter: Tide, Ta sẽ phơi khô bộ da ẩm của ngươi dưới ánh mặt trời.
– Tidehunter: Có lẽ mặt biển sẽ hoá màu xanh vì dòng máu tầm thường của ngươi.
– Tidehunter: Bọn cua ăn ngươi, Tidehunter.
– Tidehunter: Thối rữa dưới ánh mặt trời.
– Tidehunter: Tidehunter à? Dead hunter thì đúng hơn.
– Tidehunter: Tide, ta sẽ cột xác ngươi vào cánh cung của ta.
– Tidehunter: Ta chẳng còn gì để nói với ngươi nữa Tide.
– Tidehunter: Nguyền rủa ta bao nhiêu cũng được, Tide. Nó chỉ làm ta cười đắc chí thêm mà thôi.
– Tidehunter: Ta ko bao giờ chán khi nghe ngươi gọi tên ta.
– Tidehunter: Tide, Ta nghe kể rằng đằng sau đít ta thì ngươi cứ gọi tên ta à.
– Tidehunter: Tide, Ngươi bỏ bọn ta mà đi sớm thế.
– Tide: Ah. Chẳng ai ghét ta như Tidehunter. Hắn làm ta thấy mình thật có giá trị.
– Tidehunter: Hắn yêu biển cả, vì vậy ta chẳng thể ghét hắn được.
– Tidehunter: Đó là 1 điều đặc biệt, sự ràng buộc giữa 1 con quái vật và 1 người đô đốc.
– Tidehunter: Đã ra đi rồi, bạn tri âm của ta.
– Tidehunter: A! Tide! Ngươi đã quan tâm ta quá nhiều, đủ để ghét ta. Ngươi ko thể mua 1 tình yêu như vậy đâu.
Windranger: Ngọt ngào ngọt ngào thổi một làn gió, nó thổi nỗi cô đơn trong ta.
– Naga Siren: Siren, ngươi có thể dừng gọi tên ta được rồi đấy.
Slardar: Ngươi ko phải là kẻ tệ nhất trong đồng loại đâu Slardar, nhưng mà ngươi là điển hình của chúng.
Doom: Trên đồng bằng mà ta lại thấy một con quỷ biết chèo thuyền.
Shadow Fiend: Ta nghĩ là ta ghét bọn ma quỷ, nhưng ta từng chẳng biết ghét là gì cho đến khi ta gặp tên SF đó.
Shadow Demon: Shadow Demon à, ngươi chỉ là cái bóng của bọn hạm đội ác quỷ mà ta đã nhấn chìm thôi.
Death Prophet: Cái chết là người bạn đời đích thực của phụ nữ sao?
Naix: Cột buồm của ta, chủ nhân của ngươi. (Cột buồm = mast, chủ nhân = master)
Ogre Magi: Ta tìm một cái hải cảng, chứ ko phải 1 tên béo tốt (I sought a port, not a portly.)
Pudge: Hắn ta hẳn từng là một tên quyền thế béo tốt.

Kunkka nói khi gặp các đồng đội sau:

-Tidehunter: Ngày đó gần đến rồi, Tide, Ngày đó gần đến rồi.
Ancient Apparition: Apparition! Có ông ở bên cạnh thì tôi sẽ sống lâu thành người thủy thủ cổ đại mất.
– Undying: Ah Undying, chúng ta sẽ tạo nên một đoàn thủy thủ khủng khiếp đấy.
– Broodmother: Hãy hiểu cho rõ nè, khi tôi gọi cô là bạn, thì tôi ko có ý thân mật đâu nhé. (Bạn = “mate” danh từ. “Mate” động từ là giao phối)
Sven: Với cái mũ sắt như vậy Sven, tôi sẽ gọi anh là người lái tàu của tôi. (Mũ sắt = helm, người lái tàu = helmsman)

Nói khi bị Tide giết

– Ta sẽ trở lại tìm ngươi, Tide.
– Tide, máu của ngươi tuôn chảy cùng dòng nước bẩn.
– Tidehunter, con mực nang ăn bẩn kia!

Khác:

– Legion Commander: Giữ bộ ria cho chặt vào
– Legion Commander: Giữ bộ râu cho chặt vào
Oracle: Hãy coi chừng kẻo bị phá nát bởi một chiến thuyền ma quái.

Mấy thứ linh tinh.

-Kunkka được đặt theo tên của 1 hoạ sĩ chuyên vẽ màn hình loading cho dota1 và dota2 để tôn vinh anh ấy.
– Kunkka trong dota1 còn có tên phụ là “Daelin Proudmoore”, “CoCo”, và “Captain Obvious”. Daelin Proudmoore là 1 con boss trong phần campaign của War3: TFT, cũng là hình mẫu kunkka của dota1.
– Trong tiểu sử Dota1 của Kunkka có nói rằng một vài người gọi ông ta là Jack Sparrow. Đó là nhân vật chính trong loạt phim Cướp biển vùng Carribean
– Mấy câu của Kunkka nói với các kẻ địch như Slardar, DP, Doom hay các câu nói với đồng đội Wind và AA tất cả đến từ thơ của Samuel Taylor Coleridge. Có tên là The Rime of the Ancient Mariner.
– Câu nói khi bắt đầu game đấu “Rough seas ahead, crew. Strap me to the mizzen when I give the word” thì liên quan đến sử thi Odyssey của Homer. Cái lúc mà Odysseus ra lệnh cho thủy thủ đoàn buộc anh ta vào cột buồm để anh ta nghe thấy được tiếng Tiên cá hát.

Nguồn: Người kể chuyện Dota 2

Bình luận
Loading...