Fantastic Beasts và Nơi tìm ra chúng – Tổng hợp các sinh vật huyền bí

0 21

Tác giả: J. K. Rowling

Giới thiệu sơ lược: Sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng (tựa gốc: Fantastic beasts and where to find them) của nhà văn J. K. Rowling là phần ngoại truyện của bộ truyện nổi tiếng Harry Potter, được xuất bản năm 2001. Kể về những sinh vật huyền bí trong thế giới phù thủy đầy những mê hoặc, phép thuật và nguy hiểm.

Các sinh vật được chia thành 4 cấp độ:

  • XXXXX: Được biết đến như đồ sát phù thủy (hoặc mấy con mà Hagrid thích) / không thể huấn luyện hoặc thuần hóa, tóm lại là Nguy hiểm thí mẹ, đừng có mó vào.
  • XXXX: Nguy hiểm/yêu cầu những kiến thức chuyên sâu/ phù thủy quyền năng mới có thể kiểm soát chúng.
  • XXX: Chỉ phù thủy có năng lực mới nên “dây” vào, còn lại thì xê hết ra.
  • XX: Vô hại / có thể thuần hóa, mấy con này hơi bị dễ dãi.
  • X: Chán bỏ xừ, nói chung đừng quan tâm.

Do tính chất bài viết khá dài, các bạn có thể sử dụng nút Mục lục để di chuyển đến phần cần đọc. Phần Mục lục sẽ luôn thu nhỏ phía bên dưới góc trái màn hình.

ACROMANTULA

Cấp độ: XXXXX

Acromantula là một con quái nhện có tám mắt, bọn chúng có khả năng nói tiếng người. Có nguồn gốc ở Borneo (một đảo lớn thứ 3 Thế giới ở Đông Nam Á), môi trường sống là trong các khu rừng rậm tăm tối. bọn chúng có lớp lông đen dày bao phủ cơ thể; sải hai chân dài nhất của nó có thể đạt tới mười lăm feet (cỡ 4,6 m); kìm của nó, tạo ra một âm thanh như tiếng click chuột máy tính, đặc biệt khi Acromantula trong tâm trạng vui mừng hay tức giận, và tất nhiên như bao loài nhện khác thì bọn chúng cũng có cơ quan sản xuất chất độc.

Các Acromantula ăn thịt và thích con mồi lớn. Bọn chúng sẽ cuộn tròn con mồi và đem xuống lòng đất nơi chúng làm tổ. Con cái lớn hơn con đực và có thể đẻ tới một trăm trứng tại một thời điểm. Trứng của chúng mềm và trắng, có kích cỡ như một quả bóng bãi biển. Trứng nở trong sáu đến tám tuần. Trứng của Acromantula xếp vào loại hàng hóa cấm buôn bán cấp độ A do Cục Quy chế và Kiểm soát sinh vật huyền bí quy định, có nghĩa là bất cứ hành vi nhập khẩu hoặc buôn bán phi pháp nào đều chịu những hình phạt nặng của Cục.

Con quái nhện này được cho là vật nuôi của phù thủy, ngoài việc dùng các quái vật phép thuật thì họ cũng dùng Acromantula để bảo vệ chỗ ở hoặc kho báu phép thuật của mình. Mặc dù có trí thông minh gần giống con người nhưng Acromantula được cho là không thể thuần hóa và cực kỳ nguy hiểm đối với pháp sư và cả Muggle.

Có tin đồn về một cộng đồng lớn của loài Acromantula đã được thành lập ở Scotland nhưng hiện đã được xác nhận bởi Harry Potter và Ron Weasley


ASHWINDER

Cấp độ: XXX

Ashwinder được tạo ra khi một ngọn lửa ma thuật bị đốt cháy quá lâu mà không được kiểm soát. Nó là loài rắn có thân mình dài, ốm, màu xám nhạt với đôi mắt màu đỏ rực rỡ, nó sẽ trỗi dậy từ các tàn lửa của một ngọn lửa ma thuật được đốt mà không có sự giám sát, sau đó bọn chúng sẽ trượt đi và ẩn nấp vào bóng tối của căn nhà nơi nó được sinh ra, để lại một vết tro dài đằng sau. Loài Ashwinder sống chỉ một tiếng đồng hồ và trong thời gian đó nó sẽ tìm một chỗ tối và yên ắng để đẻ trứng, sau đó nó sẽ tan thành cát bụi.

Trứng của Ashwinder có màu đỏ rực rỡ và tỏa nhiệt dữ dội. Các quả trứng này sẽ đốt cháy bất kỳ ngôi nhà nào nếu trong vòng vài phút không tìm thấy và thực hiện bùa chú đông lạnh phù hợp. Bất kỳ pháp sư nào một khi nhận ra rằng có một hoặc nhiều Ashwinders trong nhà phải tìm cho ra chúng ngay lập tức và xác định vị trí làm tổ của chúng. Một khi trứng được đông lạnh, các quả trứng có giá trị lớn để sử dụng trong Độc dược tình yêu (Love Potion) và nếu như ăn cả một quả thì có thể chữa được căn bệnh sốt rét.

Ashwinders được tìm thấy trên toàn thế giới.


AUGUREY

Cấp độ: XX

Augurey (còn được gọi là Phượng hoàng Ailen) có nguồn gốc từ Anh và Ailen, đôi khi được tìm thấy ở một số nơi thuộc Bắc Âu. Nó là một loài chim có dáng vẻ ốm yếu và thê lương, thoạt nhìn có phần giống như một con kền kền nhỏ trong tình trạng bị bỏ đói, bọn Augurey này có màu xanh đen. Nó cực kỳ nhút nhát, làm tổ trên cây mâm xôi và cây gai, ăn các loài côn trùng lớn và các loài tiên, chúng chỉ bay khi trời mưa lớn, nếu không sẽ nấp trong tổ của mình.

Tiếng khóc của bọn chúng nghe cực kỳ chói tai và thảm thiết, nhiều người tin rằng đó là âm thanh dự báo cái chết. Các pháp sư thường tránh đụng phải tổ của Augurey vì sợ nghe âm thanh kinh khủng đó, và nhiều pháp sư đã lên cơn đau tim khi vô tình đi qua một bụi cây và nghe tiếng khóc của bọn chúng đâu đó vọng lại.

Tuy nhiên, một nghiên cứu đã cho thấy bọn Augurey chỉ kêu rống khi trời sắp mưa thôi, có vẻ như sau này Augurey trở nên thịnh hành như một nhà dự báo thời tiết tại gia, dù nhiều người phải nghe tiếng rên khó chịu gần như liên tục suốt những tháng mùa đông của bọn chúng.

Lông của Augurey không có công dụng gì cả vì thế chúng được sử dụng để làm bút viết mực.


BASILISK

Cấp độ: XXXXX

Basilisk (còn được gọi là Vua Rắn) đầu tiên được ghi nhận là vật nuôi của Herpo the Foul, một Pháp sư Hắc ám thời Hy Lạp và Parselmouth, người phát hiện cách tạo ra chúng sau nhiều thí nghiệm bằng cách ấp nở một quả trứng gà ngay bên dưới một con cóc, lúc đó sẽ tạo ra một con rắn khổng lồ sở hữu những quyền lực phi thường và nguy hiểm. Basilisk là một con rắn có màu xanh lá cây rực rỡ, chiều dài có thể đạt được lên đến 50 feet (17m). Con đực có một chỏm đỏ tươi trên đầu. Nọc độc nằm ở răng nanh như bao loài rắn khác, nhưng thứ nguy hiểm nhất chính là đôi mắt lớn màu vàng của nó. Bất cứ ai nhìn thẳng vào đôi mắt đó sẽ bị chết ngay lập tức.

Nếu nguồn thức ăn được cung cấp đầy đủ (thức ăn của chúng là các loài động vật có vú, chim và bò sát) thì nó có thể đạt tới một độ tuổi phi thường. Basilisk của Herpo the Soul được cho là đã sống đến gần chín trăm năm.

Từ thời trung cổ, việc tạo ra Basilisk là bất hợp pháp. Mặc dù thực tế việc tạo ra chúng có thể dễ dàng được che dấu bằng việc ấp nở một quả trứng gà bên dưới một con cóc nhưng Cục Quy định và Kiểm soát Sinh vật Huyền bí cũng sẽ phát hiện được và “đến thăm” ngay. Tuy nhiên, ngoài trừ việc Basilisks không thể kiểm soát được, ngoại trừ Parselmouths ra, thì rõ ràng bọn chúng cực kỳ nguy hiểm nhất là với phù thuỷ Hắc ám hoặc bất cứ ai khác, và ít nhất trong vòng bốn trăm năm chưa có ghi nhận nào về Basilisks tại Anh
(đó là những gì mấy người nghĩ thôi – Harry)


BILLYWIG

Cấp độ: XXX

Billywig có nguồn gốc từ một loại côn trùng đến từ Úc. Thân hình dài khoảng 0.5 inch (1.27 cm) và có màu xanh sapphire hết sức sống động, nhờ tốc độ của mình mà xác suất để Muggle và phù thủy nhìn thấy nó là cực kỳ thấp, cho đến khi họ bị chúng đốt.

Cánh của Billywig được gắn ở đỉnh đầu và xoay rất nhanh khi chúng bay. Ở dưới cùng của cơ thể là một mũi kim mỏng, dài. Những người bị đốt sẽ thấy lâng lâng và sau đó là cả cơ thể sẽ như được nhấc bổng lên khỏi mặt đất. Thế hệ phù thủy trẻ ở Úc và pháp sư cố gắng bắt Billywigs và khiêu khích chúng đốt để tận hưởng những tác dụng phụ này, nhưng nếu bị quá nhiều vết đốt thi nạn nhân sẽ trong trạng thái không thể kiểm soát suốt cả ngày cho đến khi chất độc tan đi, và nếu bị dị ứng nghiêm trọng, thì vết mẩn đỏ từ cú đốt ấy sẽ nằm vĩnh viễn trên da.

Billywig đốt khô được sử dụng làm nguyên liệu cho một số loại độc dược và ngoài ra cũng được cho là một thành phần trong nước ngọt Whizbees fizzing hết sức phổ biến trong giới phù thủy. (vậy đây sẽ là lần cúi cùng mị uống nó – Harry).


BOWTRUCKLE

Cấp độ: XX

Bowtruckle được xem như sinh vật giám hộ của cây cối (đặc biệt là các loại cây quý thường được sử dụng làm đũa phép) thường được tìm thấy chủ yếu ở phía tây nước Anh, miền nam nước Đức, và trong một vài khu rừng ở bán đảo Scandinavian (là một khu vực ở Bắc Âu).

Rất khó phát hiện được chúng, bọn này có thân hình nhỏ (cao tối đa 8 inch (20.32cm)) làm bằng vỏ cây, có các nhánh cây với hai con mắt nhỏ màu nâu. Thức ăn của chúng là các loài côn trùng, bình thường bọn chúng rất hiền và nhút nhát nhưng nếu nơi chúng ở bị đe dọa, thì ngay lập tức sẽ hùa vào tấn công những ai cố gắng phá hoại nơi ở của chúng bằng cách đâm những ngón tay sắc, nhọn vào mắt họ.

Để có đủ thời gian khai thác gỗ ở các loài cây nơi chúng giám hộ thì các phù thủy thường cho chúng ăn mối để dụ chúng.


BUNDIMUN

CẤP ĐỘ: XXX

Có thể tìm thấy Bundimun xuất hiện khắp mọi nơi. Bọn chúng có kỹ năng ẩn mình dưới sàn nhà và phía sau các tấm ván rất tuyệt vời, chúng nó gây ra các vụ sập nhà (má ơi). Bạn dễ dàng nhận thấy sự hiện diện của nó khi một mùi hôi thối nồng nặc tựa một cái xác đang phân hủy xộc vào mũi bạn. Chúng nó tiết ra một chất dịch cực kỳ hôi ngay tại nơi chúng ẩn nấp. Các Bundimun nhìn nom như những mảng chấp vá của nấm xanh với đôi mắt thô lố, khi bị chọc ngoáy hoặc trong tình trạng nguy hiểm, bọn chúng sẽ vội vã bỏ chạy trên những cái chân lúc nhúc và khẳng khiu của mình.

Bọn chúng ăn các thứ dơ bẩn. Bùa chú tẩy rửa sẽ giúp bạn không bị ra ngoài đường ở vì nhà sập (nhưng đó là một nhúm nhỏ thôi), lỡ may thấy bọn chúng quá đông trong nhà thì nên liên lạc ngay vào đường dây nóng của Cục Quy chế và Kiểm soát Sinh vật Huyền Bí (Ban Côn trùng) trước khi lâm vào cảnh “màn trời chiếu đất”. Dịch tiết Bundimun pha loãng được sử dụng làm một số chất tẩy rửa trong ma thuật.


CENTAUR

CẤP ĐỘ: XXXX^5

(Mũ 5 vì thể hiện sự giận giữ hơi thái quá của họ và cả sự tôn trọng dành cho họ, cũng giống như đối với người cá và kỳ lân).

Nhân mã có đầu người, thân trên và cánh tay nối với cơ thể ngựa, có thể có nhiều màu khác nhau. Nhân mã cực kỳ thông minh và có khả năng nói tiếng người. Bạn không nên nói thẳng bọn họ là Thú, mặc dù chính bọn họ yêu cầu Bộ Pháp thuật xếp loại họ vào nhóm này. Nơi ở chủ yếu của nhân mã là rừng rậm. Bọn họ có nguồn gốc từ Hy Lạp, nhưng bạn cũng có thể tìm thấy họ ở nhiều vùng của Châu Âu. Những Phù thủy có thẩm quyền ở những nơi có Nhân mã cư ngụ thường phân bổ họ những nơi ở giúp bọn họ không bị rắc rối bởi Muggle. Tuy nhiên, Nhân mã vẫn cần một chút bảo vệ bằng pháp thuật của các phù thủy, ẩn giấu mình khỏi con người.

Có nhiều cách để Nhân mã che dấu mình. Họ thường không tin tưởng Phù thủy hoặc Muggle và rõ ràng là giữa bọn họ cũng có khác biệt nhau chút chút. Nhân mã sống theo đàn từ 10 đến 50 thành viên. Bọn họ rất thành thạo trong lĩnh vực chữa bệnh thần bí, bói toán, bắn cung và thiên văn học.


CHIMAERA

Cấp độ: XXXXX

Chimaera là một con quái vật thời kỳ Hy Lạp cổ đại cực kỳ quý hiếm. Bọn chúng có cái đầu của một con sư tử, mình dê, và một cái đuôi rồng. Vô cùng bạo lực và khát máu, Chimaera là một trong những sinh vật nguy hiểm bậc nhất.

Chỉ có một trường hợp được ghi nhận về vụ một phù thủy đã giết chết Chimaera thành công và phù thủy này một lúc sau kiệt sức vì những nỗ lực của mình, đã không may rơi xuống từ trên lưng con ngựa bay và chết.

Trứng của Chimaera được Cục Quy chế và Kiểm soát sinh vật huyền bí xếp vào cấp độ A – nghiêm cấm buôn bán dưới mọi hình thức.
(vì thế bác Hagrid sẽ muốn có một con bất cứ lúc nào – Harry) 


CHIZPURFLES

Cấp độ: XX

Chizpurfles là loại ký sinh trùng có kích thước nhỏ, khoảng 1/20 inch (0.127 cm), bề ngoài giống cua với những chiếc răng nanh lớn. Chúng bị thu hút bởi phép thuật và có thể ký sinh dưới lớp lông mao và lông vũ của các sinh vật như loài Crup và Augureys (Phượng hoàng Ailen).

Bọn chúng cũng tấn công vào nhà của các phù thủy và thường mục tiêu của chúng là các vật phép thuật như cây đũa phép, chúng sẽ dần dần gặm nhấm đũa phép thông qua các lõi phép trên cây đũa, hoặc trong những cái vạc bẩn, nơi chúng sẽ ăn no nê những giọt thuốc phép còn sót lại trong cái vạc ấy.

Mặc dù tiêu diệt Chizpurfles rất dễ, chỉ cần dùng một số loại độc dược được chứng nhận trên thị trường là đủ, nhưng nếu gặp phải sự phá hoại quá nghiêm trọng thì bạn cần phải gọi ngay cho Ban Côn trùng của Cục Quy chế và kiểm soát sinh vật huyền bí, hoặc trong trường hợp bọn Chizpurfles ăn no nê phép thuật và “phình” to ra thì rất khó để tiêu diệt chúng.


CLABBERT

Cấp độ: XX

Clabbert là một sinh vật sống trên cây, vẻ ngoài nom như một sự giao thoa giữa một con khỉ và một con ếch. Nó có nguồn gốc từ các bang miền nam nước Mỹ, nhưng giờ đã được xuất khẩu trên toàn thế giới. Bọn chúng có làn da bóng láng và không có lông, có các đốm màu xanh lá cây, bàn tay và bàn chân có màng, có hai cánh tay và chân dài, rất dẻo dai, giúp cho Clabbert có thể di chuyển giữa các cây rất nhanh nhẹn, thoạt hình sẽ tưởng một con đười ươi. Trên đầu có những cái sừng ngắn, miệng rộng, xuất hiện là tưởng như chúng đang cười, bên trong miệng là hàm răng sắc như dao cạo. Clabbert ăn chủ yếu là thằn lằn nhỏ và các loài chim nhỏ.

Đặc điểm đặc biệt nhất của Clabbert là một cái mụt lớn giữa trán, nó sẽ chuyển màu đỏ thẫm và nhấp nháy khi có cảm giác nguy hiểm.

Phù thuỷ ở Mỹ thường nuôi Clabbert trong vườn để cảnh báo họ khi có sự tiếp cận của Muggle, nhưng Liên đoàn quốc tế của giới Phù thủy sẽ triển khai các hình phạt nếu gia đình phù thủy nào áp dụng hình thức này. Lí do là vì khi nhìn thấy một cái cây vào ban đêm với mấy cái đốm màu đỏ đang phát sáng, giống như đèn trang trí, thì nó sẽ thu hút quá nhiều Muggle rãnh rỗi muốn hỏi thăm tại sao hàng xóm của họ lại có mấy cái cây Giáng sinh sáng lên trong khi mới chỉ là tháng Sáu.


CRUP

Cấp độ: XXX

Crup có nguồn gốc từ vùng đông nam nước Anh. Hình dáng gần giống với giống chó sục Jack Russell, ngoại trừ cái đuôi có hình dáng của cái nĩa. Crup gần như là giống chó dành cho phù thủy, bởi vì nó cực kỳ trung thành với phù thủy và luôn tỏ ra hung dữ với Muggle. Bọn chúng là những con vật dọn dẹp những đồ thừa thải tuyệt vời, ăn bất cứ thứ gì từ bọn grome cho tới những lốp xe cũ.

Giấy chứng nhận nuôi Crup sẽ được cấp bởi Cục Quy chế và Kiểm soát Sinh vật huyền bí sau khi hoàn thành một bài kiểm tra đơn giản để chứng minh rằng phù thủy nộp đơn xin nuôi có khả năng kiểm soát Crup trong những khu vực sống có Muggle. Những người sở hữu Crup có quyền hợp pháp cắt đuôi của Crup bằng phương pháp không đau đớn là dùng Bùa chú Cắt đứt khi nó đạt khoảng từ 6 đến 8 tuần tuổi, để không gây ra sự chú ý cho các Muggle.


DRAGON [Rồng]

Cấp độ: XXXXX

Có lẽ đây là loài nổi tiếng nhất trong số các sinh vật huyền bí, Rồng là một trong những loài khó che giấu nhất. Con cái thường to lớn và hung hăng hơn so với con đực, không nên tiếp cận chúng trừ khi bạn là phù thủy cao tay ấn và đã được huấn luyện kỹ càng. Da, máu, tim, gan, và đuôi là tất cả các bộ phận có khả năng phép thuật, nhưng trứng Rồng lại được coi là hàng-hóa-cấm-trao-đổi-buôn-bán Loại A.

Có mười giống Rồng chính, mặc dù vào dịp giao phối, nhiều giống lai hiếm có đã ra đời. Các giống thuần chủng như sau:


ANTIPODEAN OPALEYE

(Mắt mèo Vùng Đối cực)

Cấp độ: XXXXX

Opaleye có nguồn gốc từ New Zealand, sau này được biết đã di cư đến Úc khi môi trường sống trở nên khan hiếm ở vùng đất bản địa của nó. Đây là điều không thường xuyên đối với một con rồng khi nó thích trú ẩn trong những thung lũng hơn là trên những ngọn núi. Có kích cỡ trung bình (cân nặng khoảng 2 đến 3 tấn).

Có lẽ đây là loài rồng xinh đẹp nhất, với lớp vảy có màu trắng phát ra ánh ngũ sắc và đôi mắt lấp lánh, nhiều màu và không có đồng tử, giống như tên của nó. Bọn chúng phun ra ngọn lửa màu đỏ sặc sỡ và mặc dù mang đầy đủ những đặc tính của loài rồng nhưng chúng đặc biệt hiền lành và hiếm khi giết chóc trừ khi chúng đói. Thức ăn ưa thích của chúng là cừu, mặc dù chúng cũng tấn công những con thú săn mồi lớn hơn. Số lượng kangaroo bị giết hại tăng lên chóng mặt vào cuối những năm 1970 được quy do sự việc một con Opaleye cái có sức mạnh vượt trội “hất cẳng” một con Opaleye đực ra khỏi lãnh thổ của con Opaleys đực này.

Trứng của Opaleye có màu xám nhạt và thường bị nhầm lẫn là những hóa thạch bởi những Muggle có bản tính cẩu thả.


COMMON WELSH GREEN

Cấp độ: XXXXX

Rồng Welsh Green dễ dàng hòa lẫn vào trong màu cỏ xanh mơn mởn ở quê hương chúng, nó làm tổ ở những ngọn núi cao, nơi được hình thành để dành riêng cho việc bảo vệ nó. Mặc dù xảy ra sự kiện Ilfracombe Incident*, nhưng loài rồng này là một trong số ít loài rồng ít gây rắc rối nhất, và cũng giống như Opaleye, bọn chúng thích săn những con cừu và tránh xa con người miễn là đừng có quấy rầy chúng.

Welsh Green có giọng gầm dễ nhận ra và giọng gầm của chúng du dương một cách ngạc nhiên. Chúng phun ra những luồng lửa nhanh và mỏng. Trứng của Welsh Green có màu nâu đất, điểm xuyết những đốm màu xanh lá.

* Ilfracombe Incident (Sự cố Ilfracombe): Năm 1932, một con Welsh Green đang bay gần một bờ biển ở Devon thì nó tấn công những người đang tung tăng phía dưới. Có một gia đình phù thủy duy nhất ở đó lúc ấy và họ đã thi triển Bùa chú Lãng quên lớn nhất thế kỷ 20. Gia đình Tike đã trao Huân chương Merlin, Đệ nhất đảng vì hành động anh hùng của họ.

Tuy nhiên, một vài Muggle làm thế nào đó đã tránh được Bùa chú Lãng quên và một người tên là Dirk vẫn cứ huyên thuyên trong nhiều năm rằng “một con thằn lằn bay” đã làm thủng cái phao tắm của anh ta ngày hôm đó. Tuy nhiên, lời kể không làm được gì ngoài việc gây ra bối rối cho những Muggle khác. Và điều này được ghi lại trong quyển sách Muggles Who Notice xuất bản năm 1972.


CHINESE FIREBALL

(QUẢ CẦU LỬA TRUNG HOA)
(thỉnh thoảng được biết với cái tên Rồng Sư tử)

Cấp độ: XXXXX

Đây là loài rồng Phương Đông duy nhất sở hữu một vẻ ngoài đặc biệt nổi bật. Nó có lớp vảy bóng láng với màu đỏ tươi, một viền các gai nhọn chạy xung quanh khuôn mặt hếch lên của nó và đôi mắt của nó thì cực kỳ lồi.

Fireball có trong tên của nó bởi vì mỗi khi nó giận dữ, nó sẽ phun ra một ngọn lửa có hình như cây nấm từ lỗ mũi của mình. Nó nặng khoảng từ 2 đến 4 tấn, con cái lớn hơn con đực. Những quả trứng của nó có màu đỏ thẫm rực rỡ được điểm xuyết bởi những đốm màu vàng kim và vỏ trứng được sử dụng nhiều làm những phần thưởng cho những phù thủy Trung Hoa.

Fireball rất hung hãn nhưng bọn chúng lại trở nên nền nã với loài của mình hơn bất cứ giống rồng nào, thỉnh thoảng còn đồng ý chia sẻ nơi ở của mình với hai con khác. Thức ăn ưa thích của chúng là những động vật có vú, trong đó thứ chúng ưa thích hơn cả là heo và con người.


HEBRIDEAN BLACK BRITAIN

(Hắc long Hebrides Anh Quốc)

Cấp độ: XXXXX

Loài rồng có xuất xứ từ Anh khác có tính khí hung hãn hơn bản sao của, loài rồng Welsh. Môi trường sống của loài này yêu cầu phải cỡ hàng trăm mét vuông cho một con rồng. Thân hình dài 30 feet (khoảng 9m), với lớp vảy cứng cùng đôi mắt tinh ranh và một dải vây ngắn nhô lên nhưng vô cùng sắc nhọn chạy dọc theo sống lưng. Chóp đuôi của nó có hình thù giống mũi tên và đôi cánh có hình dáng tựa cánh dơi.

Heridean Black đa số thường săn những con nai, đôi khi cũng “quất” những con chó có kích cỡ lớn và thậm chí là ăn cả những con gia súc như bò, ngựa…

Hiệp hội phù thủy Macfusty đã sinh sống ở Hebries trong nhiều thế kỷ có truyền thống lâu đời trong việc chịu trách nhiệm trông nom những con rồng Hebridean Black này.


HUNGARIAN HORNTAIL

(Đuôi gai Hungary)

Cấp độ: XXXXX

Được cho là loài rồng nguy hiểm nhất (đang nói giỡn hay nói đùa vậy) trong số các loài rồng, Hungarian Horntail có lớp vảy màu đen và hình dáng giống thằn lằn. Nó có đôi mắt màu vàng, những cái sừng màu đồng và những gai nhọn có màu sắc tương tự nhô lên từ cái đuôi dài của nó. Horntail là một trong những loài rồng phun ra ngọn lửa dài nhất (lên tới 50 feet ~15m).

Trứng của chúng có màu xám xi măng và vỏ đặc biệt cứng. Những con rồng con sẽ chui ra ngoài bằng cách dùng đuôi của chúng, dù mới nở thôi nhưng những gai nhọn trên đuôi đã phát triển rất cứng cáp.

Hungarian Horntail ăn chủ yếu là dê, cừu và bất cứ khi nào có thể, con người.


NORWEGIAN RIDGEBACK

(Lưng gai Nauy)

Cấp độ: XXXXX

Giống với Đuôi gai Hungary trong hầu hết các đặc điểm, nhưng thay vì đuôi gai, đuôi của chúng có những đường lằn đen nhánh đặc biệt nổi bật dọc sống lưng. Do đặc tính hung hăng khác thường của giống này, Lưng gai Nauy hiện nay là một trong những giống rồng hiếm hơn cả. Tấn công hầu hết các loại động vật có vú lớn trên đất, và khác với các giống khác Lưng gai Nauy cũng ăn cả các sinh vật sống dưới nước. Một báo cáo vô căn cứ cáo buộc rằng một con Lưng gai Nauy quắp mất một con cá voi xanh ngoài khơi bờ biển của Nauy năm 1802. Trứng Lưng gai Nauy màu đen và các con non phát triển khả năng phun ra hơi lửa sớm hơn so với các giống khác (từ một đến ba tháng).


PERUVIAN VIPERTOOTH

(Nanh độc Peru)

Cấp độ: XXXXX

Là giống nhỏ nhất trong số tất cả các giống rồng đã được phát hiện, và cũng là loài bay nhanh nhất. Chỉ dài tầm mười lăm feet (~ 4,57m) hoặc hơn một chút, một con Nanh độc Peru có lớp vẩy mịn bóng và đồng màu với những mảng sườn núi đen. Những chiếc sừng ngắn và chiếc răng nanh đặc biệt độc. Vipertooth có thể dễ dàng ăn dê và bò, nhưng niềm thích thú thịt người của chúng đã khiến cho Liên đoàn phù thủy quốc tế buộc phải gửi các dũng sĩ diệt rồng truy lùng và giết bớt chúng vào cuối thế kỷ XIX để giảm số lượng Nanh độc Peru đã tăng số lượng với tốc độ nhanh đáng báo động.


RUMANIAN LONGHORN

(Sừng dài Rumani)

Cấp độ: XXXXX

Có vẩy màu xanh lá đậm và cái sừng vàng dài, lấp lánh mà nó dùng để húc con mồi trước khi đem đi nướng. Bột nghiền từ sừng của chúng được coi là một nguyên liệu độc dược tốt. Các lãnh thổ bản địa của Sừng dài Rumani đã trở thành khu vực rồng sinh sống quan trọng nhất của thế giới, nơi các phù thủy của mọi quốc gia tới nghiên cứu một loạt các giống rồng ở cự ly gần. Sừng dài Rumani đã trở thành chủ đề cho một chương trình chăm nuôi quan trọng vì số lượng còn lại quá ít trong những năm gần đây, chủ yếu là do việc buôn bán sừng của nó, thứ hiện bây giờ được coi là Nguyên-liệu-buôn-bán-trao-đổi loại B.


SWEDISH SHORT-SNOUT

(Mõm cụt Thụy Điển)

Cấp độ: XXXXX

Là một giống rồng màu xanh nước biển bạc rất thu hút, da của chúng sau khi được tìm thấy có thể dùng sản xuất các đôi găng tay bảo vệ và những tấm lá chắn. Ngọn lửa phát ra từ lỗ mũi của chúng có một màu xanh rực rỡ và có thể khiến cho gỗ và xương biến thành tro chỉ trong vài giây. Mõm cụt Thụy Điển liên quan đến ít vụ việc gây ra cái chết cho con người hơn phần lớn các loài khác, dù cho chúng thích sống ở các khu vực núi hoang dã bị bỏ hoang thì cũng không nên quá tin tưởng rằng chúng không bao giờ giết chóc con người. 


UKRAINE IRONBELT

(Bụng sắt Ukraine)

Cấp độ: XXXXX

Giống lớn nhất trong giống loài rồng, Bụng sắt Ukraine có cân nặng gần sáu tấn. Tròn và bay chậm hơn Nanh độc Peru hoặc Sừng dài Rumani, Bụng sắt Ukraine vẫn là loài cực kỳ nguy hiểm, có khả năng nghiền những thứ nằm ở nơi nó hạ cánh. Vẩy có màu xám kim loại, mắt đỏ đậm, và móng vuốt đặc biệt dài, hung hăng và khát máu. Bụng sắt Ukraine đã bị theo dõi liên tục bởi các cơ quan chức năng phù thủy Ukraine kể từ khi một con Bụng sắt quắp một chiếc thuyền buồm lên trời (may mắn là nó trống không) ở Biển Đen vào năm 1799. 


DUGBOG

Cấp độ: XXX

Dugbog là một sinh vật đầm lầy được tìm thấy ở châu Âu, Bắc và Nam Mỹ. Nó giống như một mảnh gỗ cũ khi đứng yên, mặc dù kiểm tra kỹ hơn ta sẽ thấy các chi có vây và hàm răng rất sắc nhọn. Nó trượt và lướt nhẹ nhàng qua vùng đầm lầy, ăn chủ yếu là động vật có vú nhỏ, và sẽ làm tổn thương nghiêm trọng mắt cá chân của con người khi họ đi bộ. Tuy nhiên, thức ăn ưa thích của Dugbog là Mandrake (Cây độc). Người trồng Cây độc đã từng rất háo hức mong chờ thu hoạch quả để rồi chỉ tìm thấy một mớ hỗn độn khốn khiếp được để lại sau khi một Dugbog đã đi qua. 


DIMIGUISE

Cấp độ: XXXX

Dimiguise được tìm thấy ở vùng Viễn Đông, tuy nhiên không hề dễ dàng gì, vì con sinh vật này có khả năng tàng hình mỗi khi bị đe dọa và chỉ có thể được nhìn thấy bởi những phù thủy có kỹ năng trong việc bắt chúng.

Dimiguise là sinh vật ăn cỏ hiền hòa, xuất hiện với vẻ bề ngoài như một con khỉ không đuôi duyên dáng cùng đôi mắt đen, to lớn và đượm buồm (cái này gọi là mắt giả nai thơ ngây) và thường bị ẩn bên dưới bộ lông của nó. Toàn bộ cơ thể được bao phủ bằng một lớp lông màu bạc, dài, mượt mà, rực rỡ. Những tấm da sống (da chưa thuộc) của chúng có giá trị rất cao vì lông trên tấm da đó có thể dùng để bện thành sợi may ra những chiếc Áo khoác Tàng hình.


DIRICAWL

Cấp độ: XX

Diricawl có nguồn gốc từ Mauritius. Là một loài chim không thể bay, có cơ thể phúng phính, phủ lớp lông mịn. Diricawl là một sinh vật đáng chú ý với cách thức trốn thoát khỏi nguy hiểm của nó. Chúng có thể tan biến bên trong lớp lông mịn màng đó và xuất hiện trở lại ở một chỗ khác (loài phượng hoàng cũng có khả năng này).

Một điều thú vị là các Muggle đã từng hoàn toàn biết về sự tồn tại của Diricawl, mặc dù họ biết nó với cái tên ‘Dodo’. Vì không biết rằng Diricawl có thể tan biến một khi chúng sẵn sàng nên các Muggle vẫn tin rằng họ đã săn bắn loài này đến mức tuyệt chủng. Và điều này dường như đã nâng cao nhận thức của Muggle về những hệ quả trong việc sát hại vô tội vạ những sinh vật thân thiện với họ nên Liên đoàn Phù thủy quốc tế không bao giờ coi việc để các Muggle nhận biết rằng Diricawl vẫn còn tồn tại là một điều khôn ngoan.


DOXY

Cấp độ: XXX

Doxy (đôi khi được biết đến với cái tên Tiên Cắn) thường bị nhầm lẫn với fairy mặc dù chúng là những loài khá khác biệt nhau. Giống như fairy, bọn chúng có hình dáng hơi giống con người, nhưng ở Doxy bọn chúng được bảo phủ một lớp lông đen dày, và thêm một cặp chân và một cặp cánh tay. Đôi cánh của chúng dày, uốn cong và sáng bóng, rất giống cánh của những con bọ cánh cứng.

Những con Doxy thường được tìm thấy trên khắp vùng phía bắc của Châu Âu và Mỹ, bọn chúng ưa thích những vùng khí hậu lạnh. Bọn chúng đẻ tối đa 500 quả trứng một lần và chôn chúng. Những quả trứng sẽ nở trong vòng từ 2 tới 3 tuần.

Có hai hàng răng ở mỗi hàm trên và hàm dưới với những chiếc răng sắc nhọn và có nọc độc. Nếu bị chúng cắn cần phải dùng thuốc giải độc ngay.


ERKLING

Cấp độ: XXXX

Erkling là một sinh vật giống elf (yêu tinh) có nguồn gốc từ Black Forest (Rừng Đen) ở Đức. Nó lớn hơn một gnome (ma lùm ma bụi), trung bình trên 3 feet (0.914m), với một khuôn mặt nhọn và một giọng cười lảnh lót đặc biệt mê hoặc đối với trẻ em. Các trẻ em là những nạn nhân mà nó cố gắng để thu hút rời khỏi người giám hộ và rồi cuối cùng bị Erkling ăn thịt. Được kiểm soát chặt chẽ bởi Bộ Pháp thuật của Đức, tuy nhiên, các vụ giết chóc của Erkling đã giảm đáng kể trong vài thế kỷ qua và những cuộc tấn công cuối cùng được ghi nhận bởi Erkling là khi một cậu bé phù thủy sáu tuổi tên Bruno Schmidt khiến một con Erkling chết khi cậu đánh nó rất mạnh bằng cái vạc có thể tháo rời của cha mình.


ERUMPENT

Cấp độ: XXXX

Erumpent là một quái thú Châu Phi màu xám to lớn có sức mạnh phi thường. Nặng đến một tấn, một số con Erumpent có thể bị nhầm lẫn với một con tê giác khi nhìn từ xa. Nó có một làn da dày đẩy lùi hầu hết các bùa chú và lời nguyền, một cái sừng sắc nhọn trên mũi và một cái đuôi dài giống dây thừng. Erumpent chỉ có thể cho ra đời một con non mỗi lần sinh. Erumpent sẽ không tấn công trừ khi bị khiêu khích cực độ, nhưng khi nó tấn công thì kết quả thường khá thảm khốc. Sừng của Erumpent có thể xuyên qua tất cả mọi thứ từ da tới kim loại, và có chứa một chất lỏng chết người có thể làm bất cứ thứ gì chích vào nổ tung. Không có nhiều Erumpent, vì những con đực thường xuyên làm nhau nổ tung trong mùa giao phối. Chúng được đối xử với sự cẩn trọng tuyệt đối từ các phù thủy châu Phi. Sừng và đuôi của Erumpent và Dung dịch Nổ tiết ra từ sừng của chúng đều được sử dụng trong môn độc dược, mặc dù được phân loại như là Nguyên-liệu-trao-đổi-buôn-bán loại B (Nguy hiểm và Không thể tránh khỏi việc bị kiểm soát nghiêm ngặt). 


FAIRY

[Tiểu Tiên]
Cấp độ: XX

Tiểu Tiên là một loài sinh vật nhỏ hay dùng để trang trí có trí thông minh khá thấp [Muggle có niềm say mê ủy mị với các Tiểu tiên, chúng thường được các Muggle mô tả trong hàng loạt truyện cổ tích khác nhau của con cháu họ. Những “câu chuyện cổ tích” có liên quan đến các loài có cánh với những tính cách khác biệt và khả năng trò chuyện như con người (mặc dù thường xuyên ở trong kiểu tình cảm sướt mướt). Tiểu tiên, trong suy nghĩ của Muggle, sống trong ngôi nhà nhỏ tạo bởi cánh hoa, những cây nấm (toadstool) rỗng ruột, hay mấy điều tương tự thế. Chúng thường được mô tả là có mang đũa phép. Trong số tất cả các sinh vật huyền bí, Tiểu Tiên có thể nói là đã nhận được cảm tình tốt nhất của Muggle.]

Thường được sử dụng hoặc được phù thủy gọi tới để làm đồ trang trí, loài này thường sống trong rừng hoặc các khoảng trốngvùng đồng cỏ. Cao từ một đến năm inch (từ 2.54 đến 12.7cm), Tiểu tiên có một cơ thể nhỏ xíu hình người với đầu, và tay chân và cả đôi cánh giống của một loài côn trùng lớn, có thể trong suốt hoặc nhiều màu, tùy theo từng giống loài.

Tiểu tiên sở hữu chút ít phép thuật có thể được dùng để ngăn chặn các loài động vật ăn thịt, như Augurey. Bản chất thích gây gổ đôi khi vì những chuyển vẩn vơ, chúng sẽ trở nên dễ bảo vào bất cứ dịp nào được sai hành động như một món đồ trang trí. Mặc dù hình dáng bề ngoài giống con người, Tiểu tiên không có khả năng giao tiếp. Nó phát ra thứ tiếng vo vo the thé để giao tiếp với đồng loại.

Tiểu tiên có thể đẻ tới năm mươi trứng ở mặt dưới của lá. Trứng nở thành ấu trùng có màu sắc rực rỡ. Ở độ tuổi sáu đến mười ngày ấu trùng tự se quanh mình một cái kén, nơi chúng sẽ chui ra trong hình dạng có cánh phát triển đầy đủ một tháng sau. 


FIRE CRAB

[Cua Lửa]

Cấp độ: XXX

Dù cho có tên Cua lửa nhưng loài này lại trông rất giống một con rùa lớn với một cái mai to nặng nạm trang sức rực rỡ. Chúng có nguồn gốc từ Fiji, một dải bờ biển ở đây đã được biến thành một khu vực hạn chế để bảo vệ loài này, không chỉ chống lại Muggle, những kẻ có thể bị cám dỗ bởi cái vỏ giá trị của nó, mà còn để chống lại những phù thủy vô đạo đức muốn cướp lấy cái mai để làm những cái vạc quý giá cao. Tuy vậy, Cua lửa cũng có cách tự vệ: chúng bắn lửa từ đuôi khi bị tấn công. Cua lửa được xuất khẩu như là vật nuôi nhưng cần có một giấy phép đặc biệt. 


FLOBBERWORM

Cấp độ: X

Flobberworm sống ở nơi mương rãnh ẩm ướt. Đây giống một loài sâu màu nâu mập mạp có thể đạt tới 10 inch (25.4 cm), Flobberworm di chuyển rất ít. Không thể phân biệt đầu và đuôi của nó, kể cả nơi tiết ra thứ chất nhầy, đây cũng là nguồn gốc cái tên của nó, và chúng đôi khi được dùng để làm đậm đặc độc dược. Flobberworm ưa thích rau diếp, mặc dù nó cũng ăn hầu hết các loài thực vật khác. 


FWOOPER

Cấp độ: XXX

Fwooper là một loài chim châu Phi có bộ lông vô cùng rực rỡ, màu lông của chúng có thể là cam, hồng, xanh vỏ chanh hay vàng. Fwooper từ lâu đã được nuôi để cung cấp những bút lông lạ mắt và cũng đẻ ra những quả trứng rực rỡ hoa văn. Mặc dù lúc đầu khá thú vị, cuối cùng bài hát của Fwooper sẽ khiến người nghe phát điên [Uric-kỳ-quặc khi cố chứng minh rằng bài hát của Fwooper thực sự mang lại lợi ích cho sức khỏe đã nghe nó suốt ba tháng ròng không nghỉ. Thật không may, Hội đồng phù thủy mà ông báo cáo những phát hiện của mình không hề bị thuyết phục khi thấy ông đến cuộc họp không mặc gì trừ máu tóc giả mà khi quan sát kỹ hơn thì thấy đó là một con lửng chết.] và do thế mà Fwooper thường được bán kèm một thần chú im lặng yểm trên mình, và bùa chú này cần phải được gia cố hàng tháng. Chủ nuôi của Fwooper phải có giấy phép, sinh vật này cũng cần phải được nuôi dưỡng đúng cách. 


GHOUL

[Ma xó]
Cấp độ: XX

Ma xó mặc dù xấu xí nhưng không phải là sinh vật đặc biệt nguy hiểm. Nó giống như một Ông kẹ nhầy nhụa phủ đầy bùn nhớt có hàm răng vẩu thường ở trên gác xép hoặc chuồng trại của phù thủy, nơi chúng ăn nhện và bướm đêm. Chúng hay rên rỉ và thỉnh thoảng còn ném đồ vật xung quanh, nhưng về cơ bản thì đầu óc chúng đơn giản và điều tệ nhất chúng có thể làm là tiếng gầm gừ cảnh báo với bất cứ ai tình cờ đi ngang qua. Có một Ban cưỡng chế Ma xó trong Sở Quy chế và Kiểm soát Sinh vật Huyền bí nhằm loại bỏ ma xó khỏi những nơi cư ngụ của phù thủy đã trở thành tài sản của Muggle. Tuy thế, trong gia đình phù thủy, các Ma xó thường trở thành một trong những chủ đề chính trong các cuộc tán gẫu hoặc thậm chí chúng còn được xem như một con vật cưng của gia đình.


GLUMBUMBLE

Cấp độ: XXX

Glumbumble (thuộc Bắc Âu) là một loài côn trùng có lớp lông màu xám, lông bao phủ trên thân khi bay phát tán ra một chất chống lại chứng u sầu, chất này được dùng điều chế thuốc giải cho chứng rối loạn thần kinh – hậu quả của việc ăn nhầm lá cây Alihotsy. Chúng hay tàn phá tổ ong, tìm cách hút hết mật trong tổ ong. Tổ của Glumbumble hay được xây ở những nơi tối tăm và biệt lập như thân cây rỗng và hang động. Chúng thích ăn cây tầm ma. 


GNOME

[Ma lùm ma bụi]
Cấp độ: XX

Ma lùm ma bụi là những kẻ gây hại cho các khu vườn thường được tìm thấy trên khắp Bắc Âu và Bắc Mỹ. Nó có thể đạt chiều cao khoảng một foot (~ 30.48 cm), với một cái đầu to quá cỡ so với thân và đôi chân xương xẩu, cục mịch. Ma lùm ma xó có thể bị trục xuất khỏi vườn bằng cách quay nó vòng vòng cho đến khi nó chóng mặt và sau đó là ném ra ngoài hàng rào khu vườn. Ngoài ra ta có thể được sử dụng một con Jarvey, mặc dù nhiều phù thủy ngày nay thấy rằng phương pháp kiểm soát ma lùm ma bụi này quá tàn bạo. 


GRAPHORN

Cấp độ: XXXX

Graphorn được tìm thấy ở vùng núi châu Âu. Chúng có thân hình to lớn, lông màu tím pha xám với một cái bướu trên lưng, Graphorn có hai cái sừng dài, nhọn, bước đi trên bốn chân, bàn chân có bốn ngón ngắn và có bản tính cực kỳ hung dữ. Troll núi (Quỷ khổng lồ núi) đôi khi bị bắt gặp đang cưỡi trên một con Graphorns, với những nỗ lực dường như không được thành công lắm trong việc chế ngự Graphorn nên ta khá dễ dàng bắt gặp một Quỷ khổng lồ núi có đầy sẹo do một con Graphorn gây ra. Bột sừng Graphorn được sử dụng nhiều trong ngành độc dược, mặc dù nó vô cùng đắt đỏ do những khó khăn trong việc thu thập. Da Graphorn thậm chí còn bền hơn cả da Rồng và đẩy lùi hầu hết các loại phép thuật. 


GRIFFIN

[Sư tử đầu chim]
Cấp độ: XXXX

Sư tử đầu chim có nguồn gốc từ Hy Lạp, hình dáng chúng như sau: đầu và hai chân trước giống đại bàng khổng lồ còn thân và chân sau thì giống sư tử. Giống như Sphinx (Nhân sư) (xem trang 39), Sư tử đầu chim thường được các phù thủy dùng để bảo vệ kho báu. Mặc dù chúng khá hung tợn, một số ít phù thủy quyền năng cao tay ấn có thể kết bạn với một con Sư tử đầu chim. Sư tử đầu chim ăn thịt sống. 


GRINDYLOW

Cấp độ: XX

Grindylow là một loài quỷ nước màu xanh lá cây nhạt, Grindylow hay được tìm thấy ở các hồ trên toàn nước Anh và vùng Ailen. Chúng ăn cá nhỏ và tỏ ra gây hấn với cả phù thủy lẫn Muggle, mặc dù có thông tin là Merpeople (Người cá) đã thuần hóa được chúng. Grindylow có ngón tay rất dài, những ngón tay này có thể dễ dàng bị bẽ gẫy. 


HIPPOGRIFF

[Bằng Mã]
Cấp độ: XXX

Bằng Mã có nguồn gốc châu Âu, mặc dù bây giờ có thể tìm thấy trên toàn thế giới. Nó có cái đầu của một con đại bàng khổng lồ và cơ thể của một con ngựa. Có thể được thuần hóa, mặc dù điều này chỉ nên được thực hiện bởi các chuyên gia. Phải chú ý giữ giao tiếp bằng mắt khi tiếp cận một Bằng Mã. Sự tôn trọng sẽ giúp Bằng Mã thấy người tiếp cận có ý tốt. Nếu Bằng Mã đáp lại lời chào thì bạn có thể an toàn tiến lại gần. Bằng Mã đào bắt côn trùng nhưng chúng cũng ăn cả các loài chim và động vật có vú nhỏ. Bằng Mã đẻ trứng và làm tổ trên mặt đất, mỗi lần chúng chỉ đẻ ra một quả trứng lớn vỏ mỏng, nó sẽ nở trong vòng hai mươi bốn giờ. Bằng Mã con có thể sẵn sàng bay trong vòng một tuần, mặc dù nó cần cả tháng tập cho thuần thục trước khi có thể đi cùng cha mẹ mình trên những hành trình dài hơn. 


HIPPOCAMPUS

Cấp độ: XXX

Có nguồn gốc từ Hy Lạp, Hippocampus có đầu và phần thân trước của loài ngựa, đuôi và chân sau lại giống một con cá khổng lồ. Mặc dù loài này thường được tìm thấy ở Địa Trung Hải, một con có màu xanh dương tuyệt đẹp đã bị bắt bởi Người cá khỏi bờ biển Scotland vào năm 1949 và sau đó được thuần hoá bởi chúng. Hippocampus đẻ những quả trứng lớn, trong suốt mà thông qua đó ta có thể được nhìn thấy Tadfoal – những con Hippocampus còn non.


HORKLUMP

Cấp độ: X

Horklump có nguồn gốc ở vùng Scandinavia nhưng bây giờ loài này đang lan rộng ra khắp Bắc Âu. Vẻ ngoài của nó giống như một cây nấm có vỏ ngoài màu hồng nhạt được bao phủ lớp lông đen lưa thưa và dẻo dai. Đây là một giống có tốc độ sinh sản phi thường, Horklump có thể bao phủ một khu vườn trung bình trong vòng vài ngày. Nó đâm sâu bộ rễ trông giống đống xúc tu gân guốc vào lòng đất để tìm kiếm thứ thức ăn ưa thích – giun đất. Horklump là một món ăn yêu thích của Gnome nhưng lại không có công dụng rõ ràng ở các phương diện khác. 


HODAG

Cấp độ: XXX

Hodag có sừng, với đôi mắt đỏ, sáng và răng nanh dài, có kích thước của một con chó lớn. Pháp thuật của Hodag chủ yếu là ở sừng của nó khi tán bột, nó sẽ giúp một người đàn ông giải rượu và làm ngủ li bì trong bảy ngày bảy đêm. Giống như Điểu thiết long, Hodag là một sinh vật Bắc Mỹ khá náo nhiệt dễ gây kích động dẫn đến sự quan tâm và tò mò của dân Muggle. Nó hay săn những con Mooncalf để làm thức ăn trong những trang trại và do đó đã thu hút được dân Muggle vào ban đêm. Sở Cung cấp thông tin pháp thuật sai lệch cho dân Muggle của MACUSA đã thuyết phục thành công những người Muggle phải tin rằng các cuộc rình rập kiếm mồi của Hodag thực ra chỉ là tưởng tượng. Giờ đây nó đã bị quản chế, phần lớn thành công, và được đưa đến một khu vực được bảo vệ quanh vùng Wisconsin. 


HIDEBEHIND

Cấp độ: XXXX

Hidebehind là một loài vô tình được tạo ra, đã bị nhập lậu vào Bắc Mỹ từ người của Cựu Thế giới – Phineas Fletcher. Fletcher, là một thương nhân buôn bán trái phép các hiện vật và sinh vật bị cấm, đã có ý định nhập lậu con Demiguise vào Tân Thế giới, với mục đích sản xuất ra áo khoác tàng hình. Khi con tàu chở Phineas dừng bánh, Demiguise đã trốn thoát ra khỏi tàu và giao phối với một con ma cà rồng. Kết quả là, con cháu của chúng đã trốn thoát vào rừng thuộc tiểu bang Massachusetts và tiếp tục lan rộng vào khu vực ngày nay. Hidebehind sống về đêm và có sức mạnh tàng hình. những người nhìn thấy đã mô tả nó rất cao, lông tóc màu bạc, giống như một con gấu gầy. Con mồi của nó là con người mà các nhà sinh vật học cho rằng đó là kết quả của mối thù hận mà tổ tiên của loài này do Phineas Fletcher hành hạ gây nên. 


HORNED SERPENT

(Giác Xà)

Cấp độ: XXXXX

Một số loài Horned serpent đã tồn tại trên trái đất: những mẫu vật lớn của nó đã được tìm thấy ở vùng Viễn Đông, trong khi các nhà sinh vật huyền bí lỗi lạc thời cổ đại lại cho rằng chúng từng có nguồn gốc ở Tây Âu, nơi chúng đã bị các pháp sư săn bắn dẫn đến tuyệt chủng để tạo ra những thành phần độc dược. Một nhóm lớn nhất và đa dạng nhất của Horned serpent vẫn còn tồn tại đã được tìm thấy ở Bắc Mỹ, trong đó nổi tiếng và có giá trị cao nhất là nó có một viên ngọc giữa trán; được cho là có sức mạnh của tàng hình và bay lượn. Một huyền thoại tồn tại liên quan đến người sáng lập của Học viện Phù thủy và pháp thuật Ilvermorny, Isolt Sayre và một con rắn sừng hươu. Sayre nổi tiếng là có thể hiểu được con rắn, nó đã cung cấp bột vụn sừng để làm lõi cho những cây đũa phép đầu tiên ở Mỹ. Một Nhà của Ilvermorny đã được đặt tên là Horned Serpent – nghĩa là Giác Xà. 


IMP

Cấp độ: XX

Imp chỉ được tìm thấy ở Anh và Ireland. Đôi khi người ta nhầm lẫn chúng với các Pixie. Chúng có chiều cao tương tự (từ sáu đến tám inch # 15.24 đến 20.32cm), mặc dù vậy Imp không thể bay như Pixie, hay có màu sắc sặc sỡ (Imp thường có màu nâu sẫm gần giống đen). Tuy nhiên chúng cho một cảm giác hài hước. Nơi ở ưa thích cuae Imp là nơi ẩm ướt và lầy lội, và thường hay được tìm thấy ở gần bờ sông, nơi mà nó sẽ tự tạo vui vẻ cho bản thân bằng cách đẩy và làm vấp ngã những kẻ không thận trọng. Imp ăn côn trùng nhỏ và có thói quen đẻ nhiều như Fairy – Tiểu tiên, mặc dù Imp không tạo kén; con non nở ra có hình dáng đầy đủ khoảng một inch (# 2.54cm). 


JARVEY

Cấp độ: XXX

Jarvey được tìm thấy ở Anh, Ireland và Bắc Mỹ. Nó giống như một loài chồn quá khổ ở hầu hết các khía cạnh, ngoại trừ một thực tế là nó có thể nói chuyện. Tuy nhiên, khi trò chuyện thật sự ngoài sự dí dỏm thông minh thì chúng có xu hướng nói chuyện cộc cằn ( thường là khá thô lỗ) với các câu nói lặp đi lặp lại. Jarvey sống chủ yếu trong lòng đất, nơi chúng đuổi theo lũ Gnome – ma lùm ma bụi, mặc dù chúng cũng có ăn chuột chủi, chuột thường và chuột đồng. 


JOBBERKNOLL

Cấp độ: XX

Jobberknoll sinh sống ở Bắc Âu và Mỹ, là một loài chim lông xanh lốm đốm nhỏ xíu ăn các loài côn trùng nhỏ. Nó không phát ra âm thanh nào cho đến lúc chết, lúc này nó thét ra một tiếng thét dài bao gồm tất cả mọi âm thanh nó đã từng nghe, theo thứ tự đảo ngược. Lông của Jobberknoll được sử dụng trong các loại Chân dược và Độc dược Ký ức. 


KAPPA

Cấp độ: XXXX

Kappa là quỷ nước Nhật Bản sống ở các ao nông và sông ngòi. Nó thường được miêu tả trông giống một con khỉ bao bọc lớp vảy cá thay cho bộ lông, nó có một hốc ở đỉnh đầu của mình, bên trong chứa nước.
Kappa ăn máu của con người nhưng có thể bị đánh lừa để không gây tổn hại một ai đó nếu nó được ném cho một trái dưa chuột có khắc tên của họ bên trên. Trong cuộc chạm trán, các phù thủy nên lừa Kappa bằng cách cúi đầu – nếu nó làm như vậy, nước trong hốc trên đỉnh đầu sẽ trào hết ra ngoài, cuốn đi tất cả sức mạnh của nó. 


KELPIE (THỦY MÃ)

Cấp độ: XXXX

Thủy quái nước Anh và Ireland này có thể có nhiều hình dạng khác nhau, dù cho chúng hay xuất hiện dưới dạng một con ngựa với lớp bờm đầy cây bồ hoàng(?). Nếu chọn sai cách để trèo lên lưng một con Kelpie, nó sẽ lao thẳng xuống đáy sông hoặc ao hồ và ăn tươi nuốt sống người lái, để những phần ruột còn lại nổi lên bề mặt. Cách chính xác để kìm một con Kelpie là để có được một dây cương trên đầu của nó với một bùa Vị trí, điều này làm cho nó ngoan ngoãn và không còn hung hăng.

Loài Kelpie lớn nhất thế giới được tìm thấy ở hồ Loch Ness, Scotland. Hình dáng yêu thích của nó là một con rắn biển. Liên đoàn Phù thủy Quốc tế các nhận ra rằng họ không thể đối phó với một con rắn thật sự khi họ nhìn thấy nó biến thành một con rái cá để tiếp cận của một nhóm các nhà khảo Muggle và sau đó biến trở lại thành một con rắn khi bờ biển đã yên tĩnh trở lại.


KNARL (QUÁI NHÍM)

Cấp độ: XXX

Knarl (ở vùng Bắc Âu và Mỹ) là thường nhầm lẫn với một con nhím của Muggle. Hai loài thực sự có thể không phân biệt nếu không có một sự khác biệt về hành vi quan trọng: Nếu thức ăn được để lại trong vườn cho một con nhím, nó sẽ chấp nhận và tận hưởng những món quà; nếu là cho một con Knarl, nó sẽ cho rằng đó là những nỗ lực để thu hút nó chui vào một cái bẫy và sẽ bắt đầu phá tanh bành khu vườn cây hoặc đồ trang trí. Nhiều đứa trẻ Muggle đã bị cho là phá hoại trong khi thủ phạm thực sự là Knarl.


KNEAZLE (QUÁI MIÊU)

Cấp độ: XXX

Kneazle ban đầu được nuôi ở Anh, dù chúng bây giờ được xuất khẩu đi toàn thế giới. Trông như một con mèo con bé nhỏ với bộ lông lốm đốm, đôi tai ngoại cỡ, và một cái đuôi giống đuôi của sư tử, Kneazle rất thông minh, độc lập, và đôi khi hung hăng, dù thế nếu lọt vào mắt xanh của phù thủy nào đó, nó có thể trở thành một con vật nuôi tuyệt vời. Kneazle có một khả năng kỳ lạ khi phát hiện ra những kẻ xấu đáng ngờ và có thể được dựa vào các hướng dẫn của chủ nhân để tự về nhà một cách an toàn nếu đi lạc. Kneazle có thể sinh đến tám con non trong một lứa và có thể lai với mèo. Cần có giấy phép chứng nhận quyền sở hữu cho Kneazle (như với Crup và Fwooper) vì chúng có đủ sự khác biệt để thu hút sự chú ý của Muggle khi xuất hiện.


LEPRECHAUN (QUỶ RÂU RẬM)

(đôi khi được gọi là Clauricorn)
Cấp độ: XXX

Tuy thông minh hơn so với Fairy và ít phá hoại hơn so với Imp, Pixie, hoặc Doxy, Leprechaun vẫn là loài tinh nghịch. Chỉ có ở Ireland, nó có thể đạt tới chiều cao sáu inch và có màu xanh lá cây. Chúng cũng được biết là hay tạo ra quần áo thô từ lá cây. Trơ trọi với danh hiệu “con người nhỏ bé”, Leprechaun có thể nói, dù chưa bao giờ yêu cầu được phân loại lại là “Người Trần”. Leprechaun đẻ sớm và sống chủ yếu tại khu vực rừng và đất trồng cây, mặc dù nó rất thích thu hút sự chú ý của Muggle và như một hệ quả có tính chất gần như cũng ăn sâu như các Fairy trong văn học Muggle cho trẻ em. Leprechaun sản xuất một chất thực thể giống như vàng sẽ biến mất sau một vài giờ để làm cái tiêu khiển. Leprechaun ăn lá cây và mặc dù bị coi là kẻ chơi khăm, chưa từng có chuyện chúng gây ra các tổn hại lâu dài với một con người.


LETHIFOLD (SÀ ÁC)

(còn được gọi là “Living Shroud”: Tấm-vải-liệm-sống)
Cấp độ: XXXXX

Lethifold là một sinh vật nhân từ hiếm thấy chỉ duy nhất có ở vùng khí hậu nhiệt đới.*
Nó giống như một chiếc áo choàng màu đen có lẽ dày tầm nửa inch (dày hơn nếu dạo gần đấy nó đã giết chết và tiêu hóa một nạn nhân), hay lướt nhẹ trên mặt đất vào ban đêm. Nhưng ghi nhận đầu tiên chúng ta có về một Lethifold được viết bởi pháp sư Flavius Belby, người đã may mắn sống sót sau một cuộc tấn công của Lethifold vào năm 1782 trong khi đi nghỉ ở Quốc gai độc lập Papua New Guinea.

Gần một giờ sáng, khi cuối cùng tôi cũng bắt đầu cảm thấy buồn ngủ, tôi nghe thấy một tiếng sột soạt nhẹ gần đó. Tưởng rằng đó chỉ là tiếng những chiếc lá cây bên ngoài, tôi quay lưng lại trên giường, hướng lưng về phía cửa sổ, và bắt gặp cái nhìn của cái gì đó dường như là một cái bóng đen không có hình thù trượt bên dưới cánh cửa phòng ngủ của tôi. Tôi nằm bất động, giả vờ ngủ để đoán xem cái gì đã khiến cho một cái bóng như vậy chui vào trong một căn phòng chỉ được chiếu sáng bởi ánh trăng.Chắc chắn sự im lặng của tôi đã thu hút một con Lethifold và làm nó tin rằng nạn nhân tiềm năng của nó đang ngủ.

Trong sự kinh hãi của tôi, cái bóng ấy bắt đầu leo lên giường, và tôi có thể cảm thấy trọng lượng nhẹ của nó trên tôi. Nó trông cùng lắm là giống chiếc áo choàng màu đen gợn sóng, các rìa mép hơi rung một chút khi nó trườn lên giường đến gần chỗ tôi. Tê liệt vì nỗi sợ hãi, tôi cảm thấy cái chạm dẻo dẻo của nó ngay trên cằm của mình trước khi tôi ngồi bật dậy.

Thứ đó đã cố gắng bóp ngạt tôi, trượt lên và nằm im không thể lay chuyển lên mặt tôi, che cả miệng và mũi, nhưng tôi vẫn vật lộn, cảm thấy càm giác lành lạnh khi nó quấn lấy tôi cả lúc đó.Không thể kêu cứu để được giúp đỡ, tôi dò dẫm tìm cây đũa phép của mình. Càng lúc tôi càng bị chóng mặt vì bị nó che kín mặt, không có khả năng thở nổi, tôi tập trung hết sức mình khi tung bùa Stupefying và sau đó – thất bại trong việc đẩy lùi sinh vật đó, mặc dù chú ấy đã tạo ra một lỗ trên cánh cửa phòng ngủ của tôi – khi chú nguyền Ngăn trở Impediment , tương tự, cũng không giúp được chút nào. Vẫn phải vật lộn điên cuồng, tôi cuộn mình sang bên và ngã mạnh xuống sàn, bây giờ đã hoàn toàn bị bọc trong một con Lethifold.

Tôi biết mình sắp mất ý thức hoàn toàn khi ngộp thở. Tuyệt vọng, tôi thu hết tất cả sức lực cuối cùng còn lại lại. Hướng cây đũa phép ra xa người vào những nếp gấp chết người của sinh vật kia, tôi triệu hồi những kí ước về cái ngày tôi đã được chọn làm Chủ tịch của Club Gobstones địa phương, tôi thực hiện chú bùa Hộ mệnh.

Gần như cùng lúc tôi cảm thấy không khí trong lành ập vào trên khuôn mặt mình. Tôi nhìn lên và thấy một cái bóng chết chóc bị cái sừng của thần hộ mệnh do tôi tạo ra ném bay vào trong không khí. Nó bay ngang qua căn phòng và nhanh chóng trườn đi ra khỏi tầm nhìn.

Như Belby tiết lộ đáng kể như vậy, thần hộ mệnh là kỹ năng duy nhất có hiệu quả để xua đuổi Lethifold. Vì nó thường tấn công người đang ngủ, nên dù nạn nhân hiếm khi có cơ hội nào để sử dụng phép thuật chống lại. Một khi con mồi bị chết ngạt thành công, Lethifold tiêu hóa thức ăn của nó ở đó và sau đó là trên giường của họ. Sau đó nó thoát khỏi nhà trong hình dạng dày và béo hơn lúc trước, không để lại dấu vết của bản thân hoặc các nạn nhân của nó đằng sau.

(Con số nạn nhân của Lethifold gần như không thể tính được vì nó không để lại manh mối gì cho sự hiện diện của nó cả. Thế nhưng ta lại dễ dàng tính toán được số lượng phù thủy vì mục đích vô đạo đức của mình mà giả vờ là đã bị giết bởi Lethifold. Các ví dụ gần đây nhất của sự hai mặt ấy xảy ra vào năm 1973 khi pháp sư Janus Thickey biến mất, chỉ để lại một tờ giấy viết tay được viết vội vã trên cái bàn đọc sách cạnh đầu giường “Oh không có con Lethifold nào bên tôi, tôi đang bị nghẹt thở.” Bị thuyết phục bởi chiếc giường không một tì vết và trống rỗng, như có một sinh vật thực sự đã giết chết Janus, vợ và các con của ông mang tang sự buồn khổ vô cùng đã bị gián đoạn đầy thô bạo khi Janus được phát hiện sống cách đó năm dặm với bà chủ vùng đất Lục Long – Green Dragon.)


LOBALUG (BẮC HẢI TRÙNG)

Cấp độ: XXX

Lobalug được tìm thấy ở dưới đáy của biển Bắc. Nó là một sinh vật đơn giản, dài mười inch, gồm một vòi như cao su và một túi nọc độc. Khi bị đe dọa, con Lobalug co thắt túi nọc độc của nó rồi bắn chất độc về phía kẻ tấn công. Merpeople sử dụng Lobalug như một thứ vũ khí và có chuyện các pháp sư có trích xuất chất độc của nó để sử dụng trong độc dược, mặc dù thực tế chuyện này được kiểm soát chặt chẽ. 


MACKLED MALACLAW

Cấp độ: XXX

Malaclaw là một sinh vật sống trên cạn hay thấy chủ yếu trên đường bờ biển đầy đá khắp châu Âu. Mặc dù có vẻ tương đồng với tôm hùm, tốt nhất không nên chọn ăn nó, vì phần thịt không hề tốt cho con người và sẽ dẫn đến sốt cao cùng nổi mẩn xanh khó coi. Malaclaw có thể đạt chiều dài mười hai inch và có màu ánh xám nhạt với những đốm sâu màu xanh lá cây.

Nó ăn động vật giáp xác nhỏ và sẽ cố gắng để giải quyết con mồi to lớn hơn. Vết cắn của con Malaclaw có tác dụng phụ khác thường làm cho các nạn nhân rất không may mắn trong thời gian khoảng một tuần sau khi bị thương. Nếu bạn bị cắn bởi một con Malaclaw, tất cả cá cược, đặt cược và đầu tư may rủi nên được hủy bỏ, vì chúng chắc chắn sẽ trái với ý muốn. 


MANTICORE (NHÂN DIỆN SƯ)

Cấp độ: XXXXX

Manticore là một con quái thú Hy Lạp cực kỳ nguy hiểm có phần đầu như đầu của một người đàn ông, cơ thể của một con sư tử, và đuôi của một con bọ cạp. Nguy hiểm như Chimaera, và cũng hiếm như thế, Manticore hay rên rỉ nhẹ nhàng khi ăn sống con mồi của nó. Da Manticore đẩy lùi gần như tất cả các bùa phép và cái đuôi nọc độc nổi tiếng gây ra cái chết tức thì. 


MERPEOPLE (NHÂN NGƯ)

(còn được gọi là Siren, Selkie, Merrow)
Cấp độ: XXXX

Merpeople tồn tại trên toàn thế giới, mặc dù họ hay thay đổi khi xuất hiện cũng nhiều như con người. Phong tục tập quán vẫn còn là bí ẩn như các Nhân mã Centaur, dù cho những phù thủy đã làm chủ được ngôn ngữ Mermish nói rằng cộng đồng có tổ chức rất khác nhau về kích thước tùy theo môi trường sống, và một số đã công phu xây dựng chỗ ở. Giống như Centaur, Merpeople được xét vào tình trạng ‘Người trần’ trong phần phân loại quái thú (xem phần giới thiệu).

Trong những bản ghi lại cổ xưa nhất thì Merpeople được gọi là Siren (Hy Lạp) và trong vùng nước ấm hơn thì ta thấy các nàng tiên cá xinh đẹp thường được mô tả trong văn học Muggle và hội họa. Selkie Scotland và Merrow Ireland thì ít đẹp hơn, nhưng họ vẫn chia sẻ tình yêu âm nhạc như tất cả Merpeople. 


MOKE

Cấp độ: XXX

Moke là một con thằn lằn màu ánh bạc xanh dài đến mười inch (25,4 cm) và dễ tìm thấy trên khắp nước Anh và Ireland. Nó có khả năng thu nhỏ theo ý muốn và do đó không bao giờ bị Muggle phát hiện. Lớp da được đánh giá cao bới giới phù thủy khi được làm thành ví hay túi tiền, vì vật liệu có vảy sẽ phản ứng khi một kẻ lạ đến gần, giống như với chủ nhân của nó; do đó túi tiền da Moke thường gây khó dễ cho kẻ trộm trong việc định vị vị trí. 


MOONCALF (NGUYỆT NGƯU)

Cấp độ: XX

Mooncalf là một sinh vật cự kỳ nhút nhát chỉ ra khỏi hang của nó vào lúc mặt trăng tròn. Cơ thể mịn màng màu xám nhạt, đôi mắt phồng to trên đỉnh đầu và bốn chân dài mảnh khảnh cùng bàn chân phẳng rất lớn. Mooncalf chỉ thực hiện những điệu nhảy phức tạp trên chân sau trong khu vực được chiếu sáng bằng ánh trăng. Điều này được cho là một khúc dạo đầu cho mùa giao phối (và sau đó thường để lại những mô hình hình học phức tạp trên các cánh đồng lúa mì, gây ra những bối rối rất lớn cho dân Muggle).

Xem Mooncalf nhảy múa dưới ánh trăng là một trải nghiệm hấp dẫn và thường có lợi nhuận, vì nếu bạn thu thập được thứ phân màu ánh bạc của chúng trước khi mặt trời mọc lên và bón cho các loại thảo dược và bồn hoa pháp thuật, cây sẽ phát triển rất nhanh và trở nên cực kỳ mạnh khỏe. Mooncalf được tìm thấy trên toàn thế giới. 


MURTLAP (CHUỘT BIỂN)

Cấp độ: XXX

Murtlap là một sinh vật giống con chuột tìm thấy ở các khu vực ven biển của Anh. Nó có xúc tua trên lưng của nó giống như con hải quỳ. Khi đã được ngâm muối và ăn, xúc tua Murtlap giúp tăng sức đè kháng cho người bị nguyền rủa và trù ếm, mặc dù nếu quá nhiều có thể gây ra việc mọc lông tai màu tím không đẹp mắt cho lắm. Murtlap ăn động vật giáp xác và bàn chân của bất cứ kẻ nào để ngu ngốc để dẫm lên chúng. 


NIFFLER (TẦM BẢO THÚ)

Cấp độ: XXX

Niffler là một loài quái thú của Anh. Nhiều lông màu đen và có cái mũi dài, sinh vật đào hang này có lòng yêu thích bất cứ cái gì lấp lánh. Niffler thường được yêu tinh nuôi giữ để chúng đào sâu vào trong lòng đất tìm kho báu. Mặc dù Niffler thân thiện và thậm chí là tình cảm, nó có thể phá tung đồ đạc và không bao giờ nên nuôi chúng trong nhà. Niffler sống trong một cái hang cao đến hai mươi feet dưới lòng đất và sinh sáu đến tám con non trong một lứa. 


NOGTAIL

Cấp độ: XXX

Nogtails là giống quỷ được tìm thấy ở các vùng nông thôn trên khắp châu Âu, Nga và Mỹ. Nó giống con lợn con còi cọc với đôi chân dài, đuôi mập dày, và đôi mắt đen hẹp. Nogtail sẽ chui vào một cái chuồng và bú sữa một con lợn nái bình thường bên cạnh lũ lợn con non của con lợn đó. Nogtail càng ở lại lâu và phát triển to ra thì trang trại nó ẩn nấp càng dễ gặp nhiều tai họa.

Nogtail đặc biệt nhanh và khó bắt, mặc dù nếu bị đuổi ra ngoài ranh giới của một trang trại bởi một con chó trắng tinh khiết, nó sẽ không bao giờ quay trở lại. Cục Quy chế và Kiểm soát Sinh vật Huyền Diệu (Phân bộ thú vật) giữ một tá con chó đánh hơi lông trắng (albino bloodhound) cho mục đích này. 


NUNDU (QUÁI BÁO)

Cấp độ: XXXXX

Loài thú ở phía Đông châu Phi này được cho là nguy hiểm nhất thế giới. Một con báo khổng lồ di chuyển lặng lẽ mặc cho kích thước to lớn và có thứ hơi thở tạo nên bệnh dịch đủ nguy hiểm để loại bỏ toàn bộ các làng, nó chưa bao giờ bị quy phục bởi ít hơn một trăm pháp sư cao tay ấn làm việc cùng nhau. 


OCCAMY (THẦN XÀ LINH ĐIỂU)

Cấp độ: XXXX

Occamy được tìm thấy ở vùng Viễn Đông và Ấn Độ. Một loài sinh vật hai chân có cánh bao phủ trong lớp lông chim với một cơ thể giống loài rắn, Occamy có thể đạt chiều dài mười lăm feet. Nó ăn chủ yếu là chuột và các loài chim, mặc dù chúng có quắp cả những con khỉ. Occamy hiếu chiến với tất cả những kẻ tiếp cận nó, đặc biệt là lớp bảo vệ trứng của nó, với cái vỏ được làm bằng thứ bạc tinh khiết và mềm mại nhất. 


PHOENIX (PHƯỢNG HOÀNG)

Cấp độ: XXXX ( bị đánh giá là XXXX không phải vì nó hung hăng mà bởi vì chỉ có rất ít phù thủy đã từng thành công trong việc thuần hóa nó.)

Phoenix là một con chim tuyệt đẹp, cỡ một con thiên nga nhỏ, với cái đuôi dài cùng cái mỏ và móng vuốt màu đỏ vàng. Nó làm tổ trên đỉnh núi và được tìm thấy ở Ai Cập, Ấn Độ và Trung Quốc. Phoenix có thể sống đến một độ tuổi vô hạn vì có khả năng tái sinh, tự bốc lửa khi cơ thể bắt đầu tàn tạ và tái sinh trở lại từ đống tro tàn trong hình dạng một con gà con. Phoenix là một sinh vật hiền lành chưa bao giờ được biết có liên quan đến việc giết chóc và chỉ ăn các loại thảo mộc. Giống như Diricawl, nó có thể biến mất và xuất hiện lại theo ý muốn. Bài hát của Phoenix rất huyền diệu; nó có tiếng là để làm tăng sự can đảm của trái tim tinh khiết và tấn công vào nỗi sợ hãi của trái tim ô uế. Nước mắt Phoenix có đặc tính chữa lành mạnh mẽ. 


PIXIE

Cấp độ: XXX

Pixie chủ yếu được tìm thấy ở Cornwall, Anh. Có màu màu xanh dương ánh điện sáng, có thể cao đến tám inch và rất tinh nghịch, Pixie thích mọi kiểu trò đùa lừa phình. Mặc dù không có cánh, chúng có thể bay và đã được biết đến trong những vụ hay tóm lấy tai của những người không thận trọng và treo trên ngọn cây cao và đỉnh các tòa nhà. Pixie sản sinh ra những tiếng hét the thé chỉ có Pixie khác mới hiểu. Chúng đẻ rất sớm. 


PLIMPY

Cấp độ: XXX

Plimpy là một loài cá vằn hình cầu dễ dàng nhận ra bởi đôi chân dài với hai bàn chân có màng. Chúng sống ở các hồ nước sâu, nơi mà chúng sẽ lặn xuống dưới đáy để rình mồi tìm kiếm thức ăn, và chúng thích ốc bươu nước. Plimpy không phải là loài đặc biệt nguy hiểm, mặc dù nó sẽ gặm bàn chân và quần áo của người đi bơi. Chúng bị Người cá Merpeople coi là một loài phá hoại, họ đối phó với chúng bằng cách buộc đôi chân có màng thành một cái nút, Plimpy sau đó trôi đi, không thể tự điều khiển hay quay trở lại cho đến khi nó tự cởi trói cho bản thân, điều có thể mất hàng giờ liền. 


POGREBIN

Cấp độ: XXX

Pogrebin là một con quỷ ở Nga, cao chưa đầy một feet, với một cơ thể lông lá và một cái đầu màu xám mềm mịn quá khổ. Khi co lại, Pogrebin trông giống như một hòn đá sáng bóng, tròn tròn. Pogrebins bị con người thu hút vào con người và thích theo đuôi họ, ở trong cái bóng của họ và co mình một cách nhanh chóng khi chủ cái bóng quay lại.

Nếu một Pogrebin được phép theo đuôi một người trong nhiều giờ, một cảm giác sợ hãi vô dụng sẽ bao trùm lên con mồi của nó, cuối cùng họ sẽ rơi vào trạng thái hôn mê và tuyệt vọng. Khi nạn nhân dừng lại không đi nữa và rồi quỳ xuống phát khóc vì cảm giác vô dụng, Pogrebin sẽ nhảy xổ lên người và cố gắng nuốt chủng họ. Tuy nhiên, ta có thể dễ dàng đẩy lùi lũ Pogrebin bằng mấy bùa nguyền rủa đơn giản hoặc Bùa choáng Stupefying. Mấy cú đá cũng có hiệu quả đấy. 


PORLOCK

Cấp độ: XX

Porlock là một loài bảo vệ cho lũ ngựa dễ tìm thấy ở Dorset, Anh, và tại miền Nam Ireland. Bao phủ trong lớp lông xù xì, nó có một mái tóc thô dày rất lớn trên đầu và một cái mũi đặc biệt lớn. Nó đi lại trên hai cái chân chẻ. Cánh tay nhỏ và có bốn ngón tay ngắn to bè. Porlock phát triển đầy đủ cao khoảng cao hai feet (61 cm) và ăn cỏ.

Porlock rất nhút nhát và sống để bảo vệ lũ ngựa. Nó có thể được tìm thấy cuộn tròn trong đống rơm chuồng hoặc nơi trú ẩn khác ở giữa bầy ngựa nó bảo vệ. Porlock nghi ngờ và luôn tránh tiếp cận con người. 


PUFFSKEIN

Cấp độ: XX

Puffskein có thể tìm thấy trên toàn thế giới. Dáng hình cầu và được bao phủ trong lớp lông mềm màu sữa trứng, chúng là một sinh vật ngoan ngoãn không chống lại các hành động như ôm ấp hoặc quăng quật. Dễ chăm sóc, chúng phát ra một tiếng kêu thấp nhỏ khi đã thỏa mãn.Theo thời gian rất dài, chiếc lưỡi mỏng màu hồng sẽ thò ra từ sâu bên trong cơ thể của Puffskein và trườn quanh nhà để tìm kiếm thức ăn.

Puffskein là một kẻ ăn đồ thải bất kể từ thức ăn còn thừa cho đến lũ nhện, nhưng nó có một sở thích đặc biệt là dính cái lưỡi của nó lên mũi của vị phù thủy đang ngủ và ăn đi ma quỷ ám họ.Xu hướng này đã làm cho nhiều Puffskein được các phù thủy nhỏ yêu quý trong nhiều thế hệ và nó vẫn còn là một con thú cưng rất phổ biến trong giới phù thủy. 


QUINTAPED

(còn được gọi là MacBoon Lông Lá)
Cấp độ: XXXXX

Quintaped là một con thú ăn thịt rất nguy hiểm có khẩu vị đặc biệt thích thịt người. Cơ thể treo tầm thấp của nó được bao phủ trong bộ lông màu nâu đỏ dày, cũng như năm chân và kết thúc phía dưới cùng là bàn chân quẹo thọt trông như bị tật. Quintaped chỉ được tìm thấy trên Hòn đảo Buồn chán (the Isle of Drear) ở ngoài khơi mũi phía bắc của Scotland. Nơi này đã không được phác họa địa đồ vì lý do này.

Truyền thuyết kể rằng Hòn đảo Buồn chán đã từng có những cư dân trú ngụ là hai gia đình phù thủy, nhà McClivert và MacBoon. Một cuộc đấu tay đôi giữa hai phù thủy say xỉn là Dugald, trưởn g tộc McClivert, và Quintius, người đứng đầu của gia tộc MacBoon, được cho là đã dẫn đến cái chết của Dugald. Để trả thù, theo những gì được kể lại, trong một đêm nọ, một nhóm người nhà McClivert bao vây ngôi nhà họ MacBoon và biến từng người một thành thứ sinh vật năm chân quái dị. Người nhà McClivert nhận ra khi đã quá muộn rằng những MacBoon đã bị biến đổi trở nên nguy hiểm hơn nhiều trong lúc này (MacBoons nổi tiếng về việc thiếu khả năng thích ứng với ma thuật).

Hơn nữa, MacBoon đã chống lại mọi nỗ lực để biến họ trở lại hình dạng con người. Các con quái thú đã giết tất cả người nhà McCliverts cho đến khi không còn con người nào trên đảo nữa. Chỉ khi đó những con quái vật MacBoon mới nhận ra rằng không có ai cầm đũa để làm phép, họ sẽ bị buộc phải ở trong hình dạng này mãi mãi.

Cho dù câu chuyện này là đúng hay không thì cũng sẽ không bao giờ được biết đến. Chắc chắn không có McClivert hay MacBoon nào còn sống sót để kể cho chúng ta biết chuyện gì đã xảy ra với tổ tiên họ. Quintaped không thể nói chuyện và Cục Quy chế và Kiểm soát Sinh vật huyền bí đã kịch liệt phản đối mọi nỗ lực trong việc bắt giữ một mẫu vật và thử đảo ngược quá trình biến hình nó, vì vậy chúng ta phải giả định rằng nếu chuyện đó có thực, như biệt danh cho thấy, MacBoon Lông Lá, thì chúng cũng đang rất hạnh phúc khi được sống từng ngày như là một quái thú. 


RAMORA

Cấp độ: XX

Ramora là một con cá bạc hay thấy ở Ấn Độ Dương. Có sức mạnh pháp thuật mạnh mẽ, nó có thể neo tàu và là người giám hộ của người đi biển. Ramora được đánh giá cao bởi Liên đoàn Phù thủy Quốc tế, họ đã đặt ra nhiều luật lệ để bảo vệ Ramora khỏi những phù thủy săn trộm.


RED CAP

Cấp độ: XXX

Những sinh vật trông giống người lùn sống trong mấy cái lỗ trên các chiến trường cũ hay bất cứ nơi nào có máu của con người đã đổ xuống. Mặc dù dễ dàng bị đẩy lùi bởi mấy bùa chú và lời nguyền, chúng vẫn rất nguy hiểm với những Muggle đơn độc, người mà chúng sẽ cố gắng đáng họ bằng cây gậy lớn hay vật nặng cho đến chết vào đêm tối. Red Cap phổ biến nhất là ở Bắc Âu.


RE’EM

Cấp độ: XXXX

Một con bò không lồ vô cùng hiếm có với lớp da ánh vàng, Re’em được tìm thấy ở trong những vùng hoang dã của Bắc Mỹ và Viễn Đông. Máu Re’em cho người uống sức mạnh to lớn, do sự khó khăn trong việctìm ra nó nên nguồn cung cấp gần như không đáng kể và ít khi được bán trên thị trường mở. 


RUNESPOOR (TAM THỦ XÀ)

Cấp độ: XXXX

Runespoor có nguồn gốc từ một đất nước châu Phi nhỏ của Burkina Faso ở Tây Phi. Là một con rắn ba đầu, Runespoor thường đạt đến chiều dài sáu hoặc bảy feet (183 – 213 cm). Có màu cam tái ánh xanh với sọc đen, Runespoor rất dễ bị phát hiện, vì vậy Bộ Pháp Thuật của Burkina Faso đã phải thiết kế riêng những cánh rừng nhất định không có trên địa đồ để cho duy nhất một mình Runespoor sử dụng.

Mặc dù không phải tự bản thân Runespoor là một con quái thú đặc biệt xấu xa, chúng đã từng là vật nuôi yêu thích của các phù thủy Hắc ám, không có nghi ngờ vì sự nổi bật và đáng sợ khi chúng xuất hiện. Chúng được tạo ra bởi các Xà khẩu, chúng ta còn thiếu hụt sự hiểu biết về những thói quen đáng tò mò của chúng. Theo những gì được tiết lộ từ những ghi nhận thì mỗi một cái đầu của Runespoor phục vụ cho một mục đích khác nhau. Cái đầu bên trái (hay bị nhìn thấy bởi các phù thủy phải đối mặt với Runespoor) là cái đầu lên kế hoạch.

Nó quyết định nơi Runespoor sẽ đi và những gì sẽ làm gì tiếp theo. Cái đầu giữa là cái đầu mơ mộng (Runespoor có thể giữ yên trong nhiều ngày tại một thời điểm, mất đi những hình ảnh tráng lệ và tưởng tượng). Cái đầu bên phải là cái đầu phê bình và sẽ đánh giá những nỗ lực của cái đầu bên trái và cái đầu ở giữa với một tiếng rít khó chịu liên tục. Răng nanh của cái đầu bên phải cực kỳ độc. Runespoor hiếm khi sống lâu vì mấy cái đầu có xu hướng tấn công lẫn nhau. Thấy một con Runespoor mất cái đầu bên phải là điều khá phổ biến bởi vì hai cái đầu còn lại đã liên kết với nhau để cắn đứt nó đi.

Runespoor đẻ trứng thông qua miệng chúng , là loài quái thú huyền diệu duy nhất được biết đến làm như vậy. Những quả trứng có giá trị lớn trong việc sản xuất các độc dược kích thích sự nhanh nhẹn cho tinh thần. Một thị trường chợ đen bán các mặt hàng về Runespoor và trứng của nó đã phát triển mạnh mẽ trong nhiều thế kỷ. 


SALAMANDER

Cấp độ: XXX

Salamander là một con thằn lằn lửa nhỏ thích ăn những ngọn lửa. Có màu trắng rực rỡ, nó xuất hiện trong màu xanh dương hoặc đỏ tùy thuộc vào sức nóng của ngọn lửa làm cho nó xuất hiện. Salamander có thể tồn tại tới tận sáu giờ bên ngoài một đám cháy nếu được thường xuyên cho ăn hạt tiêu. Chúng sẽ sống miễn là ngọn lửa sinh ra chúng còn cháy. Máu Salamander có đặc tính chữa bệnh và phục hồi mạnh mẽ. 


SEA SERPENT (HẢI XÀ)

Cấp độ: XXX

Sea Serpent được tìm thấy ở Đại Tây Dương, Thái Bình Dương và biển Địa Trung Hải. Mặc dù đáng báo động khi xuất hiện, Sea Serpent chưa bao giờ liên quan đến vụ giết hại con người nào, dù cho có những Muggle điên cuồng hay gắn hành vi hung dữ cho chúng. Có thể vươn dài lên đến một trăm feet (~ 30.5 mét), Sea Serpent có đầu giống con ngựa và một cơ thể rắn dài khi nhô lên trên mặt biển.


SHRAKE

Cấp độ: XXX

Một con cá được bao phủ hoàn toàn trong gai và tìm thấy ở Đại Tây Dương. Những bầy Shrake đầu tiên được cho là đã được tạo ra như nhằm trả thù các ngư dân Muggle đã xúc phạm một nhóm các pháp sư chèo thuyền trong đầu những năm 1800. Từ ngày đó trở đi, bất kỳ Muggle câu cá ở vùng biển đặc biệt đó đều tìm thấy tấm lưới của họ bị xé rách và trống không bởi các con Shrake phá bên dưới.


SNALLYGASTER (THIẾT LONG ĐIỂU)

Cấp độ: XXXX

Là loài có hình thù nửa chim, nửa bò sát. Điểu thiết long đã từng cho là một loại rồng, nhưng nó có họ hàng xa xôi với loài Rắn Cánh (Occamy). Nó không thể phun ra những ngọn lửa, nhưng nó sử dụng những cái răng hình răng cưa sắc nhọn như thép kiếm để cắt ngọt con mồi. Điểu thiết long thường xuyên gây đe dọa đến Quy ước Bí mật Bảo đảm Quốc tế trong thế giới phù thủy. Với bản năng tự nhiên thích tò mò, cùng lớp da chống đạn, nó không tránh khỏi làm tăng thêm nỗi khiếp sợ và Điểu thiết long đã xuất hiện trên báo chí của dân Muggle với tần suất ngày càng dày đặc và đôi khi nó còn gắn liền với huyền thoại Thủy quái hồ Lock Ness với những tựa đề đại loại như “Quái thú Háu đói – Hầu hết đã lộ diện”. Bắt đầu từ năm 1949, Hiệp hội Bảo vệ Điểu Thiết Long đóng tại Maryland đã tung bùa Xóa Ký ức lên bất kỳ Muggle nào nhìn thấy nó.


SNIDGET

Cấp độ: XXXX ( Golden Snidget được xếp là XXXX không phải vì nó nguy hiểm mà vì những chấn thương nặng phát sinh khi định chụp hoặc bắt nó)

Loài Golden Snidget là một loài chim được bảo vệ cực kỳ hiếm. Cơ thể hoàn toàn tròn, với một cái mỏ mỏng rất dài và đôi mắt như bảo thạch đỏ sáng lấp lánh, Golden Snidget là một loài bay rất nhanh, có thể thay đổi hướng với tốc độ và kỹ năng phi thường do các khớp quay của cánh. Lông và mắt của Golden Snidget được đánh giá rất cao nên đã từng có một thời kỳ chúng có nguy cơ bị các pháp sư, phù thủy săn bắt đến mức tuyệt chủng. Sự nguy hiểm được nhận ra kịp lúc và chúng đã được bảo vệ, yếu tố đáng chú ý nhất là việc thay thế trái Golden Snitch vàng bằng Snidget trong các trò chơi Quidditch (Bất cứ ai quan tâm đến vai trò của loài Golden Snidget trong sự phát triển của trò chơi của Quidditch nên tham khảo ý kiến cuốn ‘Quidditch Through the Ages’ của Kennilworthy Whisp (Whizz Hard Books, 1952)). Các khu bảo tồn Snidget tồn tại trên toàn thế giới.


SPHINX (NHÂN SƯ)

Cấp độ: XXXX

Sphinx Ai Cập có một cái đầu hình người trên cơ thể của một con sư tử. Trong hơn một ngàn năm nó đã được sử dụng bởi các phù thủy và pháp sư để bảo vệ vật có giá trị và những nơi bí mật. Rất thông minh, Sphinx rất thích những mảnh ghép và câu đố. Nó thường chỉ trở nên nguy hiểm khi những gì nó đang bảo vệ bị đe dọa.


STREELER

Cấp độ: XXX

Streeler là một con ốc khổng lồ thay đổi màu sắc dựa trên từng giờ và những gì còn lại nó để lại là một đường nhớt rất độc có thể làm teo và thiêu cháy tất cả cây cối trên đường nó đi qua. Streeler có nguồn gốc từ một số nước châu Phi, mặc dù đã được nuôi thành công bởi các pháp sư ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ. Nó được nuôi như một con thú cưng bởi những người thích sự thay đổi màu sắc vạn hoa của nó, và nọc độc của nó là một trong số ít các chất được biết đến có thể giết Horklump.


TEBO

Cấp độ: XXXX

Tebo là là loài heo rừng hoang Châu Phi có màu lông xám tro hay được tìm thấy ở Congo và Zaire. Có sức mạnh vô hình, làm cho người ta gặp nhiều khó khăn để trốn thoát hay đuổi bắt, chúng rất nguy hiểm. Da Tebo được các pháp sư đánh giá cao khi làm lá chắn bảo vệ và quần áo.


THUNDERBIRD (SẤM ĐIỂU)

Cấp độ: XXXX

Thunderbird là loài duy nhất sống ở Bắc Mỹ, nhất là ở Arizona. Nó cao hơn một người đàn ông sau khi đã trưởng thành; có khả năng tạo ra các cơn bão khi bay. Thunderbird rất nhạy cảm với những nguy hiểm huyền bí; cho nên các cây đũa được tạo ra từ lông vũ của nó được biết đến là có khả năng tự động bắn những lời nguyền một cách triệt để khi nó cảm thấy bị đe dọa. Một trong những ngôi nhà của Trường Phù thủy và pháp thuật Ilvermorny đã được đặt tên là Thunderbird, nghĩa là Sấm điểu. 


TROLL (QUỶ KHỔNG LỒ)
Phân loại của B.P.T: XXXX

Troll là một sinh vật đáng sợ cao đến mười hai feet (3.6 mét) và nặng hơn một tấn. Đáng chú ý ngoài sức mạnh và sự ngu dốt cực phi thường của mình, Troll khá là bạo lực và không thể đoán trước. Có nguồn gốc ở Scandinavia nhưng ngày này ta có thể tìm thấy chúng ở Anh, Ireland, và các khu vực khác ở miền bắc châu Âu.

Troll thường trò chuyện bằng thứ tiếng gầm gừ như một thứ ngôn ngữ thô sơ, mặc dù một số đã hiểu và thậm chí là nói một vài từ đơn giản. Những con thông minh hơn đều được đào tạo thành kẻ giám hộ.

Có ba loại Troll: núi, rừng, sông. Troll núi là dòng lớn nhất và nguy hiểm nhất. Nó hói, có một làn da xám nhợt nhạt. Troll rừng có một làn da màu xanh lá cây nhạt và một số cá thể có cà tóc, thường là màu xanh lá cây hoặc màu nâu, mỏng, và bù xù. Troll sông có sừng ngắn và có thể có nhiều lông. Nó có một làn da tím, và thường được tìm thấy ẩn nấp bên dưới cầu. Trolls ăn thịt sống và không kén chọn con mồi, từ động vật hoang dã cho đến con người. 


UNICORN (BẠCH KỲ MÃ)

Cấp độ: XXXX (Xem chú thích về phân loại Nhân mã – Centaur.)

Unicorn là một con quái thú xinh đẹp được tìm thấy ở khắp các cánh rừng ở Bắc Âu. Nó là con ngựa màu trắng thuần có một sừng khi phát triển đầy đủ, mặc dù ngựa con ban đầu có màu vàng, biến bạc trước khi trưởng thành. Sừng, máu và lông của chúng đều có chất pháp thuật rất cao ( Giống như Fairy, Unicorn nhận được sự yêu thích của Muggle – trong trường hợp này là hợp lý). Nó thường tránh tiếp xúc với con người, có vẻ dễ dàng cho phép một phù thủy (nữ) tiếp cận hơn một pháp sư (nam) và rất khó bắt bởi chúng rất nhanh nhẹn. 


WAMPUS CAT (THẤU TƯỞNG MIÊU)

Cấp độ: XXXXX

Wampus cat giống với loài sư tử núi không những về kích thước mà còn cả diện mạo, Wampus cat có nguồn gốc ở Appalachia. Nó đi bộ bằng những chân sau, và có thể vượt qua những làn cung tên bắn, mắt màu vàng của nó được cho là có sức mạnh của cả hai thuật thôi miên và Triết tâm Trí thuật. Cherokee đã nghiên cứu rất sâu về Wampus cat, họ phân chia nhiều khu vực để vây bắt, và họ cũng chính là những người duy nhất có thể có được những lọn tóc mèo thấu tưởng để sử dụng như một loại chất liệu làm lõi đũa phép. Năm 1832, Phù thủy Abel Treetops của thành phố Cincinnati đã quảng cáo rằng ông đã được cấp bằng sáng chế một phương pháp để thuần hóa Wampus cat để sử dụng như là loài vật bảo vệ nhà cửa cho các phù thủy. Ngọn ngành của vấn đề đã bị phơi bày; thực ra, nó chỉ là một trò bịp bợm khi MACUSA đột nhập vào nhà và tìm thấy anh ta đang sử dụng bùa Phóng to lên những con mèo Kneazles. Một trong những Nhà của trường pháp thuật Bắc Mỹ, Ilvermorny, được đặt theo tên của Wampus Cat; nghĩa là Thấu tưởng Miêu. 


WEREWOLF (NGƯỜI SÓI

Cấp độ: XXXXX ( tất nhiên phân loại này được đề cập là về người sói đã ở trong trạng thái biến đổi hoàn toàn. Khi mặt trăng khuyết, người sói vô hại như mọi người khác. Đối với trường hợp đau lòng về cuộc chiến giữa một pháp sư và một Lycanthropy – một kiểu biến hình siêu nhiên từ một con người thành môt con sói trong cổ tích, xem cổ tích ‘Hairy Snout, Human Heart’ của một tác giả vô danh (Whizz Hard Book,1975)).

Người sói được tìm thấy trên toàn thế giới, dù được cho là có nguồn gốc ở Bắc Âu. Con người biến thành sói chỉ khi bị cắn. Không có thuốc chữa, mặc dù những phát triển gần đây trong ngành độc dược có thể kìm chế được khá nhiều các triệu chứng tồi tệ nhất. Mỗi tháng một lần, vào ngày trăng tròn, những phù thủy tâm thần ổn định và bình thường hoặc Muggle bị ảnh hưởng biến đổi thành một con quái vật giết người. Gần như khác hẳn so với những quái thú tuyệt vời khác, người sói tích cực tìm kiếm con người tùy theo sở thích khác nhau về con mồi. 


WINGED HORSE (NGỰA BAY)

Cấp độ: XX-XXXX

Winged Horse tồn tại trên toàn thế giới. Có nhiều giống khác nhau, bao gồm Abraxan (giống palomino vô cùng mạnh mẽ khổng), Aethonan (màu hạt dẻ, phổ biến ở Anh và Ireland), Granian (màu xám và đặc biệt nhanh) và Thestral quý hiếm (màu đen, sở hữu những sức mạnh vô hình, và bị nhiều phù thủy coi là không may mắn). Như loài Hippogriff, chủ sở hữu của một con ngựa có cánh cần thực hiện một bùa Thuần trí đều đặn (xem Giới thiệu). 


YETI

(còn được gọi là Chân To, Người-Tuyết-quạo-quọ)

Cấp độ: XXXX

Nguồn gốc từ Tây Tạng, Yeti được cho là có quan hệ với Troll dù cho chưa từng có ai tới đủ gần để tiến hành các cuộc kiểm tra cần thiết. Chiều cao lên đến mười lăm foot, nó được bao phủ từ đầu đến chân trong bộ lông có màu trắng tinh khiết nhất. Yeti ngấu nghiến bất cứ điều gì lạc vào trong đường đi của nó, mặc dù nó sợ lửa, và có thể bị đẩy lùi bởi một phù thủy cao tay ấn. 

Nguồn BapStory Thế Giới Phép Thuật: Harry Potter Và Sinh Vật Huyền Bí
Bình luận
Loading...