Trò chơi vương quyền – Phương Bắc và Gia tộc Stark

1. Lời mở đầu

Triều đại vinh quang

Kể từ sự sụp đổ của Gia tộc Targaryen, đế chế trở nên vô cùng thịnh vượng. Robert, Đệ Nhất, nắm quyền cai trị một Westeros đổ nát và rất nhanh chóng hàn gắn nó sau những vết thương gây ra bởi Vua Điên và con trai ông. Hành động đầu tiên của vị vua độc thân là kết hôn với người phụ nữ đẹp nhất trên toàn đế quốc, Cersei thuộc Gia tộc Lannister – qua đó ban cho gia tộc Lannister tất cả những vinh dự mà Aerys đã từ chối. Và cho dù tất cả đều biết rằng Lãnh Chúa Tywin hoàn toàn có thể trở lại với chức vụ Cánh Tay, thì nhà vua thay vào đó, một cách rất tử tế, đã giao trách nhiệm đó cho người bạn cũ và cũng là người bảo trợ của mình, Lãnh Chúa Jon Arryn. Lãnh Chúa Arryn thông thái và công bằng đã thực sự giúp nhà vua trông nom đế quốc rất thịnh vượng từ đó.

Nhưng không thể nói rằng triều đại của Robert là hoàn toàn không có rắc rối nào. Sáu năm sau khi ông lên ngôi, Balon Greyjoy phản loạn chống lại nhà vua – chẳng phải vì có tổn hại gì ảnh hưởng đến ông ta hay cho người dân của ông ta mà chỉ vì tham vọng và dục vọng của bản thân mình. Lãnh Chúa Stannis Baratheon, người em trai thứ của Robert, đã dẫn hạm đội hoàng gia đối đầu với Lãnh Chúa Greyjoy, trong khi Vua Robert thân chinh chỉ huy một lực lượng khổng lồ. Vua Robert ngay lập tức đã lập một chiến công khi Pyke cuối cùng cũng bị chiếm và quy phục. Nhà vua sau đó đã khiến Balon Greyjoy – kẻ đòi hỏi vương miện của Quần Đảo Sắt – phải quỳ gối trước Ngai Sắt. Và để đảm bảo sự trung thành của hắn, đứa con còn sống sót duy nhất của ông ta bị bắt làm con tin.

Giờ đây đế quốc đã lại hòa bình, và tất cả những điều từng hứa hẹn khi Robert lên ngôi cũng đã hoàn thành. Vị vua cao quý của chúng ta đã chứng kiến một trong những mùa hè dài nhất trong suốt nhiều năm, với sự thịnh vượng và những mùa màng bội thu. Thêm nữa, nhà vua cùng hoàng hậu của ông đã sinh cho đế quốc ba người thừa kế vàng để đảm bảo rằng Gia Tộc Baratheon sẽ cai trị dài lâu. Và dù cho Vị Vua Phía Bên Kia Bức Tường có tự xưng, Mance Rayder chỉ là một kẻ bội thề bỏ trốn khỏi Hội Tuần Đêm, và Hội Tuần Đêm luôn rất nhanh chóng mang công lý đến cho những kẻ phản bội họ. Tên vua này sẽ chẳng đi tới đâu, cũng như tất cả những tên vua man tộc trước hắn.

Khi những sự kiện lịch sử này diễn ra, thế giới đã trải qua nhiều năm. Hàng ngàn năm đã trải qua từ Kỷ Bình Minh cho tới ngày hôm nay. Những lâu đài đã mọc lên rồi sụp đổ, cũng như những vương quốc. Những người sáng lập đã được sinh ra, lớn lên và gây dựng sự nghiệp, rồi già đi và chết do tai nạn hoặc bệnh tật, bỏ lại những đứa con cũng trải qua những điều y hệt như vậy. Những vị hoàng tử sinh ra, lớn lên để đội vương miện, rồi chết trên chiến trường hoặc trên giường hoặc trong giải đấu, bỏ lại những triều đại vĩ đại, đáng quên, hoặc là đáng bị nguyền rủa. Thế giới đã biết đến băng trong Đêm Trường, và đã biết đến lửa trong Ngày Tận Thế. Từ Bờ Biển Băng Giá đến Asshai – Bóng – Tối, thế giới của băng và lửa này đã có một lịch sử vinh quang và thịnh vượng – dù vậy vẫn còn khá nhiều điều chưa được sáng tỏ. Nếu như có thêm những phần bị thất lạc từ những ghi chép của Học Sĩ Gyldain được tìm thấy – hoặc nếu những kho báu không gì có thể sánh bằng (ít nhất là trong mắt những học sĩ) được phát hiện – thì sẽ có thêm những sự kiện mơ hồ được làm sáng tỏ. Nhưng có một điều có thể khẳng định chắc chắn. Khi một ngàn năm sau đó mở ra – và hàng nghìn năm sau đó nữa – sẽ có thêm rất nhiều người sinh ra, lớn lên và chết đi. Và lịch sử sẽ tiếp tục mở ra, kỳ lạ, phức tạp và thuyết phục như những gì mà ngòi bút tầm thường của tôi đã ghi lại trước khi các bạn ở đây.

Không ai có thể nói chắc được tương lai nắm giữ những gì. Nhưng có lẽ, bằng những hiểu biết về những điều đã diễn ra, chúng ta đều có thể góp phần tránh đi những sai lầm mà cha ông ta đã phạm phải, để tái hiện những thành công của họ, và để tạo dựng nên một thế giới vui vẻ hơn cho con cái chúng ta, và con cái của chúng, trong nhiều thế hệ mai sau.

Nhân danh Vua Robert vinh quang, Đệ Nhất, tôi tổng kết lại lịch sử về những vị vua của Bảy Vương Quốc.

Xứ Vale

2. Phương Bắc

Vương quốc rộng lớn và lạnh giá của Những Vị Vua Mùa Đông, Gia tộc Stark vùng Winterfell, được coi là vương quốc đầu tiên và lâu đời nhất Bảy Vương Quốc, và trong thời gian đó, nơi đây trường tồn và không bị chinh phục trong khoảng thời gian lâu nhất. Sự khác biệt về địa chất và lịch sử đã đặt Phương Bắc cách biệt hoàn toàn với những vương quốc xuôi về phương Nam.

Người ta thường nói rằng Phương Bắc rộng lớn bằng cả 6 vương quốc kia cộng lại, nhưng sự thật thì không tới mức như thế: Phương Bắc, ngày nay được cai trị bởi Gia tộc Stark vùng Winterfell, chiếm chưa đến một phần ba đế quốc. Bắt đầu từ rìa phía Nam của vùng The Neck, lãnh địa của nhà Stark trải dài về phía Bắc tới tận vùng New Gift (bản thân vùng này cũng thuộc vương quốc của họ cho tới khi Vua Jaehaerys I thuyết phục Winterfell nhường lại vùng đất này cho Hội Tuần Đêm). Phương Bắc có những cánh rừng rộng lớn, những vùng đồng bằng lộng gió, những ngọn đồi và thung lũng, những bờ biển đầy đá và những đỉnh núi tuyết phủ. Phương Bắc là một vùng đất lạnh giá – phần lớn nơi này là những đồng hoang và cao nguyên xen kẽ giữa những dãy núi – và điều này làm cho nơi đây ít phì nhiêu hơn nhiều so với những vùng đất phía Nam. Người ta nói rằng ở đây tuyết rơi thậm chí cả vào mùa hè, và trở nên khủng khiếp vào mùa đông.

Phương Bắc

Trong suốt nhiều thế kỷ, người ta thường hay nhắc đến Bảy Vương Quốc của Westeros theo thói quen. Cách gọi quen thuộc này xuất phát từ bảy vương quốc vĩ đại trên toàn Westeros bên trong Bức Tường trong những năm ngay trước Cuộc Chinh Phạt của Aegon. Thế nhưng sau đó, điều này không còn chính xác nữa, vì một trong số những “vương quốc” này được cai trị bởi các hoàng tử chứ không phải vua (Dorne), và “vương quốc” Dragonstone của chính Aegon Targaryen chưa bao giờ được tính vào số này.

Bất chấp điều này, cách gọi trên vẫn được duy trì. Cũng như cách chúng ta nói về Một Trăm Vương Quốc trước kia, dù cho chưa từng có thời kỳ nào mà Westeros thực sự bị chia cắt thành một trăm lãnh địa độc lập nhau, chúng ta buộc phải chấp nhận cách gọi theo thói quen này và nói về Bảy Vương Quốc, cho dù nó không chính xác.

Cảng Trắng, thành phố đích thực duy nhất của Phương Bắc, là thành phố nhỏ nhất trên toàn Bảy Vương Quốc. Những thị trấn nổi bật nhất Phương Bắc là “thị trấn mùa đông” phía dưới những bức tường của Winterfell và Barrowton vùng Barrowlands. Dân cư hầu như trống trơn vào mùa xuân và mùa hè nhưng trở nên chật cứng vào mùa đông bởi những người tìm kiếm sự bảo hộ và trợ cấp từ Winterfell giúp họ sống sót qua thời kỳ đói khát. Cư dân thị trấn không chỉ đến từ những ngôi làng và lãnh địa phía ngoài, mà có rất nhiều là con cái của những bộ lạc vùng núi di cư đến thị trấn mùa đông khi tuyết bắt đầu rơi dày.

Chiếc vương miện rỉ sét của Gia Tộc Dustin là do họ đoạt được với danh nghĩa là hậu duệ của Vị Vua Đầu Tiên và những vị vua Barrow trị vì sau ông. Những câu chuyện cổ kể lại trong cuốn Thông Điệp Từ Cái Chết của Kennet đã đề cập rằng một lời nguyền đã được yểm lên dòng họ Barrow không cho phép bất cứ kẻ nào còn sống được phép cạnh tranh với Vị Vua Đầu Tiên. Lời nguyền này khiến cho những kẻ tranh quyền đoạt vị trở nên có vẻ ngoài như xác sống, bị hút cạn máu và sự sống. Điều này chỉ là truyền thuyết, chắc chắn thế, nhưng chuyện dòng họ Dustin có chung dòng máu và là hậu duệ của Những Vị Vua Barrow cổ xưa là có thật.

Barrowton cũng là một nơi hiếm có – được xây dựng trên nền móng lãnh địa danh tiếng của Vị Vua Đầu Tiên, người đã từng một thời cai trị tuyệt đối toàn bộ tộc Tiền nhân, nếu như những huyền thoại có thể tin tưởng được. Mọc lên giữa một vùng đồng bằng rộng lớn và trống trải, nơi đây phát triển rất thịnh vượng nhờ vào tài cai quản sáng suốt của gia tộc Dustin, chư hầu trung thành của gia tộc Stark, những người đã cai trị Barrowland kể từ khi vị vua Barrow cuối cùng sụp đổ.

Dân cư phương Bắc là hậu duệ của tộc Tiền Nhân, dòng máu của họ chỉ bị pha trộn rất ít từ những người Andalos đã chiếm những vương quốc ở phía Nam. Ngôn ngữ gốc của Tiền Nhân – được gọi là Ngôn Ngữ Cổ – giờ chỉ còn được nói bởi dân man tộc phía bên kia Bức Tường, và rất nhiều những khía cạnh khác trong văn hóa của họ đã biến mất (chẳng hạn như những nghi thức hiến tế thần linh, khi tội phạm và những kẻ phản bội bị giết và xác cùng với bộ lòng của chúng bị treo lên trên những nhánh cây weirwood)

Ở phương Bắc, người ta kể những câu chuyện về Đầu Bếp Chuột, người từng phục vụ cho một vị vua Andalos – một số người xác nhận là Vua Tywell II vùng The Rock, và một số khác thì nói là Vua Oswell I xứ Vale và vùng Ngọn Núi – đã dùng thịt của chính con trai nhà vua để làm nhân bánh và nướng cho ông ta ăn. Vì điều này, hắn ta bị trừng phạt bằng cách bị biến thành một con chuột quái dị ăn chính những đứa con của mình. Tuy nhiên hình phạt này không phải do tội giết con trai nhà vua, hay do tội đem thịt anh ta cho nhà vua ăn, mà là do đã phá vỡ luật khách.

Nhưng dân phương Bắc vẫn còn lưu giữ một số những lề lối cổ xưa trong phong tục và cung cách của họ. Cuộc sống của họ khó khăn hơn xưa, và vì thế họ cũng trở nên cứng rắn hơn, và những tiện nghi mà dân miền nam coi là quý tộc thì ở đây bị coi là trẻ con và không đáng coi trọng bằng săn bắn hay đánh nhau, những thứ mà dân phương Bắc thích thú nhất.

Thậm chí cả cái tên những gia tộc của họ cũng khác biệt, vì tộc người Tiền Nhân đặt tên rất ngắn gọn, thô kệch và thẳng thắn, những cái tên như Stark, Wull, Umber, và Stout tất cả đều bắt nguồn từ những ngày mà người Andalos chưa từng hiện diện ở phương Bắc.

Một phong tục đáng chú ý mà dân phương Bắc gìn giữ cẩn thận hơn bất kỳ luật nào khác đó là luật khách, một truyền thống về lòng hiếu khách mà theo đó một người luôn phải đảm bảo an toàn cho một vị khách được mời tới dưới mái nhà của mình, hoặc là một vị khách của ông chủ mình. Người Andalos cũng có cùng một phong tục như vậy, nhưng điều này không ăn sâu vào tiềm thức của người phương Nam lắm. Trong cuốn ghi chép Công Lý và Bất Công ở Phương Bắc, Những Hình Phạt của Ba Vị Lãnh Chúa Nhà Stark, Học Sĩ Egbert đã lưu ý rằng tội ác phá vỡ luật khách ở Phương Bắc rất hiếm xảy ra nhưng đều bị trừng phạt nghiêm khắc không kém gì những tội phản nghịch ghê tởm nhất. Chỉ duy nhất tội giết hại người cùng dòng tộc được cho là nghiêm trọng ngang với việc phá luật hiếu khách này.

Moat Cailin

Vì hiệp sỹ rất hiếm ở Phương Bắc, những giải đấu thương hiệp sỹ cùng với quang cảnh ồn ào náo nhiệt của chúng hiếm như răng của lũ gà mái ở phía bên kia vùng the Neck. Binh lính phương Bắc cũng chiến đấu trên lưng ngựa với thương, nhưng họ không hề coi đây là một môn thể thao, và chỉ thích thú với những trận đấu với quy mô như những trận chiến đích thực. Có những ghi chép về những cuộc đấu kéo dài tới nửa ngày và bỏ lại những bãi chiến trường nát bấy và những ngôi làng tan tác. Rất nhiều những thương tích nghiêm trọng đã xảy ra trong các cuộc đấu thương này, và những cái chết không thể quên. Tại cuộc đấu nổi tiếng tại Last Hearth vào năm 170 AC, người ta kể lại rằng có không dưới 18 người thiệt mạng, và thêm gấp rưỡi số đó bị tàn phế vĩnh viễn.

3. Những vị vua mùa đông

Những bài ca và câu chuyện kể lại rằng Gia tộc Stark vùng Winterfell đã cai trị vô số những vùng đất rộng lớn phía bên kia vùng The Neck trong suốt 8000 năm, tự xưng mình là Những Vị Vua Mùa Đông (theo cách gọi cổ xưa) và (theo cách gọi những thế kỷ gần đây) Những Vị Vua Phương Bắc. Thời kỳ cai trị của họ cũng không thiếu đi những thử thách. Rất nhiều trong số những trận chiến này là những lần gia tộc Stark bành trướng thế lực cai trị của mình hoặc bị buộc phải giành lại những vùng đất bị những kẻ nổi loạn chiếm đóng. Những Vị Vua Mùa Đông là những con người cứng rắn trong những thời khắc khó khăn.

Những bài hát cổ, trong số những tư liệu cổ nhất từng được tìm thấy tại Citadel ở Oldtown, kể về việc Những Vị Vua Mùa Đông đánh đuổi người khổng lồ ra khỏi phương Bắc, trong khi đó kẻ biến hình Gaven Sói Xám cùng với dòng tộc của mình ngã xuống trong “Cuộc Chiến Của Bầy Sói” vô cùng thảm khốc, nhưng sự tồn tại của những vị vua cũng như những trận chiến này cũng chỉ trong những bài hát mà thôi.

Gia tộc Stark (trung tâm) và một vài chư hầu (tính từ đỉnh đồng hồ): Glover, Ryswell, Manderly, Dustin, Bolton, Tallhart, Reed, Umber, Karstark, Hornwood và Mormont.

Những bằng chứng lịch sử rõ ràng hơn thì minh chứng về cuộc chiến giữa Những Vị Vua Mùa Đông với những vị Vua Barrow ở phía Nam của họ, những người tự xưng là Vua Của Tộc Tiền Nhân và đòi quyền lực tối cao đối với toàn bộ Tiền Nhân ở bất cứ nơi đâu, bao gồm cả chính gia tộc Stark. Những bản ghi chép cổ khẳng định rằng cuộc chiến giữa họ, được các ca sĩ đặt tên là Cuộc Chiến Một Ngàn Năm, thực chất là một loạt những cuộc chiến chỉ kéo dài khoảng hai trăm năm, kết thúc khi vị vua Barrow cuối cùng quỳ gối trước Vua Mùa Đông, và dâng con gái mình làm vợ ngài.

Tuy nhiên chiến thắng này vẫn chưa giúp Winterfell cai trị được toàn bộ Phương Bắc. Vẫn còn rất nhiều những vị vua nhỏ lẻ còn tồn tại, cai trị những đế chế lớn nhỏ, và phải mất hàng ngàn năm sau, thêm rất nhiều cuộc chiến nữa thì vị vua cuối cùng trong số đó mới bị chinh phục. Thế nhưng lần lượt, gia tộc Stark đã chinh phục tất cả họ, và trong suốt những cuộc chiến này, rất nhiều những gia tộc kiêu hãnh và những dòng dõi cổ xưa đã bị tận diệt.

Trong số những gia tộc bị suy tàn từ hoàng gia thành chư hầu, chúng ta có thể kể ra: gia tộc Flint vùng Breakstone Hill, gia tộc Slate vùng Blackpool, gia tộc Umber vùng Last Hearth, gia tộc Locke vùng Oldcastle, gia tộc Glover vùng Deepwood Motte, gia tộc Fisher vùng Stoney Shore, gia tộc Ryder vùng Rills … và có lẽ cả gia tộc Blackwood vùng Raventree, những người khẳng định rằng truyền thống gia đình mình từng cai trị phần lớn khu rừng sói cho tới khi họ bị đánh đuổi đi khỏi mảnh đất của mình bởi Những Vị Vua Mùa Đông (những bản ghi chép cổ đã xác thực điều này, nếu như những bản dịch của Học Sĩ Barneby là đáng tin)

Có những biên niên sử được tìm thấy trong những tư liệu của Hội Tuần Đêm ở Nightfort (trước khi nó bị bỏ hoang) kể về cuộc chiến giành Mũi Rồng Biển, tại nơi đây gia tộc Stark đã hạ Vua Warg và những đồng minh ngoại nhân của hắn, những đứa con của rừng rậm. Khi doanh trại cuối cùng của Vua Warg sụp đổ, những người con trai của hắn đều bị xử tử, cùng với những con thú và những greenseer, trong khi những người con gái bị chiếm đoạt bởi những nhà chinh phục như những chiến lợi phẩm.

Gia tộc Greenwood, Gia tộc Tower, Gia tộc Amber và Gia tộc Frost có chung một kết cục tương tự nhau, cùng với một cơ số những gia tộc nhỏ và những vị vua thấp kém khác, tên tuổi của họ đã bị lịch sử lãng quên. Tuy nhiên, kẻ thù khó nhằn nhất của Winterfell chắc chắn là Những vị vua Đỏ của vùng Dreadfort, những lãnh chúa hung tợn của gia tộc Bolton cai trị những thuộc địa trải dài từ Last River tới tận sông White Knife, và trải dài về phía nam tới tận Sheepshead Hill.

Mối thù giữa gia tộc Stark và Bolton đã tồn tại từ thời Đêm Trường, nhiều người cho rằng như vậy. Những cuộc chiến giữa hai gia tộc cổ xưa này nhiều vô số kể, và không phải lúc nào phần thắng cũng thuộc về Gia Tộc Stark. Vua Royce Bolton, Đệ Nhị, được kể lại rằng đã chiếm và thiêu rụi Winterfell, người trùng tên và cũng là hậu duệ của ông là Royce Đệ Tứ (được lịch sử ghi nhớ với cái tên Royce Cánh Tay Đỏ, do sở thích thọc tay vào trong bụng của những kẻ thù đã bị bắt và moi ruột họ ra bằng tay không) cũng làm được điều tương tự vào ba thế kỷ sau đó. Những vị Vua Đỏ khác thì nổi danh với việc mặc những chiếc áo choàng làm từ da của những người thừa kế nhà Stark đã bị bắt và bị lột da.

Thế nhưng cuối cùng, ngay cả Dreadfort cũng sụp đổ trước sức mạnh của Winterfell, và vị Vua Đỏ cuối cùng, được lịch sử biết đến là Rogar Săn Người, đã thề trung thành với Vua Mùa Đông và giao nộp những đứa con trai của mình tới Winterfell làm con tin, giống như những người Andalos đầu tiên vượt qua biển hẹp trên những con thuyền dài của mình.

Sau thất bại của gia tộc Bolton, đối thủ cạnh tranh Phương Bắc cuối cùng, mối hiểm họa lớn nhất với đế chế cai trị của gia tộc Stark lúc này là ở ngoài biển. Biên giới phía Bắc của gia tộc Stark được bảo vệ bởi Bức Tường và Hội Tuần Đêm, trong khi ở phía Nam, con đường duy nhất vượt qua vùng đầm lầy vùng The Neck đã bị chôn vùi dưới những tòa tháp đổ nát và những bức tường bị nhấn chìm của pháo đài vĩ đại Moat Callin. Thậm chí ngay cả khi Những Vị Vua Đầm Lầy vẫn còn giữ vùng Moat, những binh lính của họ luôn một lòng chống lại những kẻ xâm lược từ phương Nam, kết đồng minh với Vua Barrow, Vua Đỏ, và Vua Mùa Đông khi cần thiết để đánh đuổi bất kỳ tên lãnh chúa phương Nam nào dám cả gan tấn công Phương Bắc. Và khi Vua Rickard Stark đưa vùng the Neck vào trong đế chế cai trị của mình, Moat Callin còn trở nên kiên cố hơn bao giờ hết – một bức tường chống lại những thế lực phía Nam. Rất ít kẻ đủ liều lĩnh để tấn công vào đây, và lịch sử ghi nhận rằng chưa từng có ai thành công.

Tuy nhiên, bờ biển dài và gập gềnh của phương Bắc, cả ở phía Đông và phía Tây, đều không được phòng bị, đây chính là nơi mà sự cai trị của Winterfell bị đẹ dọa nhất … bởi quân Quần Đảo Sắt ở phía Tây và người Andalos ở phía Đông.

Vượt qua eo biển hẹp với số lượng hàng trăm, hàng ngàn, những chiếc thuyền dài của người Andalos đã cập bến phương Bắc giống như họ đã từng làm ở phương Nam, nhưng bất cứ nơi đâu họ neo thuyền, gia tộc Stark và những chư hầu của mình tấn công và đuổi họ ngược ra biển. Vua Theon Stark, được lịch sử biết đến với cái tên Sói Tham Lam, đã đẩy lùi những hiểm họa lớn nhất, liên minh với gia tộc Bolton đập tan quân đội của người Andalos do thống lĩnh Argos Sevenstar chỉ huy trong Trận Chiến Vịnh Than Khóc.

Sau chiến thắng này, Vua Theon tập hợp hạm đội tàu của mình và vượt qua eo biển hẹp tới bờ biển của người Andalos, vớt xác của Argos treo trên cột cờ của thuyền. Tại đây, người ta kể lại rằng, ông đã có một màn trả thù đẫm máu, thiêu rụi hàng loạt ngôi làng, chiếm ba tòa tháp và một điện thờ kiên cố, xử tử hàng trăm người. Đầu của những kẻ bị giết được Sói Tham Lam đem về Westeros như một chiến tích và cắm chúng lên những chiếc cọc dọc bờ biển của mình như một lời cảnh báo cho những kẻ chinh phục tương lai. (Sau này trong triều đại tàn bạo của ông, chính ông cũng đã chinh phục Ba Chị Em và đóng một cánh quân ở vùng Fingers, nhưng cuộc chinh phục này không duy trì được lâu. Vua Theon cũng chiến đấu với quân Quần Đảo Sắt ở phía Tây, đánh đuổi chúng khỏi Cape Kraken và Đảo Gấu, đàn áp một cuộc phản loạn ở Rills, và hợp lực cùng với Hội Tuần Đêm trong một cuộc đột kích ra phía ngoài Bức Tường, đập tan sức mạnh của dân man di trong cả một thế hệ).

Cho tới khi King’s Landing mọc lên bên cạnh Vịnh Hắc Thủy, Cảng Trắng là thành phố non trẻ nhất tại Bảy Vương Quốc. Được xây dựng từ sự giàu có của gia tộc Manderlys từ vùng Reach sau khi bị đuổi đi tha hương bởi Lãnh Chúa Lorimar Peake theo lệnh của vua Perceon Đệ Tam Gardener, người lo ngại về quyền lực đang lên của họ ở vùng Reach, Cảng Trắng có nhiều điểm chung với những lâu đài và những tòa thép đẹp đẽ của vùng Reach hơn là những lâu đài phương Bắc; người ta kể lại rằng pháo đài New Keep được xây dựng theo mẫu của lâu đài Dunstonbury, nơi mà người Manderlys đã bị cướp mất và phải bỏ đi tha hương.

Thậm chí trước cả khi người Andalos tới, Hang Sói đã được dựng lên bởi Vua Jon Stark, được xây dựng để phòng thủ vùng cửa sông White Knife chống lại bọn cướp và nô lệ từ phía bên kia biển hẹp (một số học giả khẳng định rằng có những cuộc đột kích từ rất sớm của người Andalos, trong khi một số khác tranh cãi rằng những người này thực ra là hậu duệ của những người vùng Ib, hoặc thậm chí là nô lệ từ Valyria và Volantis)

Trấn giữ qua nhiều thế kỷ bởi người thừa kế của các gia tộc (bao gồm cả Greystark, một nhánh của gia tộc Stark, cũng như Flint, Slate, Long, Holt, Locke, và Ashwood), pháo đài cổ xưa này là nơi tập trung rất nhiều những cuộc đụng độ. Trong thời gian nổ ra những cuộc chiến giữa Winterfell và những vị vua Andalos vùng Núi và xứ Vale, Đại Bàng Già Osgood Arryn đã từng tấn công vào Hang Sói. Con trai ông, Vua Oswin đã chiếm được và thiêu rụi nơi này. Sau này, nơi đây lại thất thủ trước cuộc tấn công của những lãnh chúa hải tặc thuộc Ba Chị Em và những nô lệ vùng Stepstones. Cho tới tận thời điểm vài ngàn năm trước Cuộc Chinh Phục, khi mà gia tộc Manderlys tha hương tới phương Bắc và tuyên thệ tại Hang Sói, những rắc rối trong việc phòng thủ White Knife – dòng sông dẫn thẳng vào trung tâm phương Bắc – mới được giải quyết với việc dựng lên Cảng Trắng.

Bờ biển phía Tây của Phương Bắc cũng thường xuyên bị bao vây bởi những kẻ cướp đoạt, và một vài trong số những cuộc chiến của Sói Tham Lam nổ ra khi những chiếc thuyền từ Great Wyk, Old Wyk, Pyke, và Orkmont cập bến bờ biển phía Tây của ông dưới trướng của Harrag Hoare, Vua của Quần Đảo Sắt. Từng có thời Stoney Shore cũng trung thành với Harrag và quân đội của ông ta, rìa rừng sói chỉ toàn là tro tàn, và Đảo Gấu là căn cứ cho bọn cướp, cai trị bởi những đứa con trai tàn độc của Harrag: Ravos và Raper. Dù cho Theon Stark đã tự tay giết chết Ravos, và đánh đuổi quân Đảo Sắt ra khỏi bờ biển của mình, chúng lại trở lại dưới trướng cháu trai của Harrag, Erich Diều Hâu, và một lần nữa dưới trướng của Thủy Quái Già, Loron Greyjoy, kẻ đã chiếm lại cả Đảo Gấu lẫn Cape Kraken (Vua Rodrik Stark đã chiếm lại một nơi sau khi Thủy Quái Già chết, trong khi những đứa con trai và cháu trai của ông đã chiến đấu chiếm lại nơi còn lại). Cuộc chiến giữa Phương Bắc và Quần Đảo Sắt vẫn tiếp diễn sau đó, nhưng cũng đã bớt ác liệt hơn.

4. Những tộc người vùng núi

Các tộc người ở vùng núi phía Bắc đặc biệt nổi tiếng với việc tuân thủ những điều luật về sự hiếu khách, và các lãnh chúa nhỏ cai trị những tộc người này thường cạnh tranh với nhau để trở thành người chủ nhà hào phóng nhất.

Những tộc người này nằm chủ yếu ở các khu vực miền núi bên ngoài rừng sói, trong các thung lũng và đồng cỏ ở trên cao, và dọc theo Vịnh Băng hoặc một số những dòng sông ở phía Bắc – bọn họ thể hiện lòng trung thành với những người Stark, nhưng những tranh chấp của họ đã gây nhiều khó khăn cho những Lãnh chúa của Winterfell và Những vị vua Mùa đông trước đây, buộc những người đứng đầu gia tộc Stark phải đưa quân của mình vào vùng núi để dập tắt các cuộc đổ máu từ những tranh chấp này (được gợi nhớ trong những bài hát như là Black Pines và Wolves in the Hills), hoặc triệu tập những thủ lĩnh của các tộc người này đến Winterfell để giải quyết các trường hợp bất đồng giữa họ.

Tộc người hùng mạnh nhất trong các tộc người phương Bắc là tộc Wull, ngư dân sống dọc theo Vịnh Băng. Lòng căm thù của họ đối với người của Đảo Sắt sánh ngang với lòng căm thù của họ dành cho man tộc, những người đảo sắt thường xuyên đột kích dọc theo bờ vịnh, đốt cháy nơi ở của họ, mang theo hoa màu, bắt vợ và con gái của họ trở thành người hầu và vợ muối. Những vùng đất rộng lớn ven biển vùng Stony Shore, Đảo Bear, Sea Dragon Point và Cape Kraken đều đã được những người sắt nắm giữ. Thật vậy, Cape Kraken, gần Quần đảo Sắt nhất, đã đổi chủ nhiều lần đến nỗi nhiều học giả tin rằng người dân nơi đây có huyết thống gần gũi với người đảo sắt hơn là với người phương Bắc.

Những câu chuyện lịch sử của phương Bắc cho rằng Rodrik Stark đã giành lại Đảo Gấu từ người sắt trong một trận đấu vật, và có lẽ câu chuyện này là thật; các vị vua của Quần đảo Sắt thường bị buộc phải chứng minh năng lực và quyền được đeo vương miện gỗ lũa bằng sức mạnh cơ bắp của mình. Các học giả tỉnh táo hơn thì thấy nghi vấn về câu chuyện từ lịch sử này, cho thấy rằng nếu có môn “đấu vật”, thì đó là chỉ là “đấu võ mồm” mà thôi.

5. Danh xưng Stoneborn của tộc Skagos

Mặc dù cũng có những bất đồng xảy ra trong nhiều thế kỷ, nhưng các tộc người vùng núi vẫn có truyền thống trung thành với nhà Starks trong cả thời chiến lẫn thời bình. Thế nhưng điều này không đúng với tộc người man rợ vùng Skagos, hòn đảo với mật độ núi dày đặc phía đông vịnh Seals.

Người Skagos có ít mối liên quan tới các tộc người phương Bắc khác, có vẻ như họ có mỗi liên hệ với man tộc nhiều hơn và họ đặt tên mình là Skagg. Người Skagos tự gọi mình là “sinh ra từ đá”, điều này có liên quan tới một sự thật rằng Skagos có nghĩa là “đá” trong Ngôn ngữ Cổ. Họ là tộc người với ngoại hình to lớn, lông rậm, có mùi hôi (một số học giả tin rằng tộc người Skagos có một sự pha trộn mạnh mẽ của dòng máu người Ibben; những người khác thì cho rằng họ có thể là hậu duệ của những người khổng lồ), mặc áo da và lông được lột từ các con thú lớn nhỏ, người ta còn nói họ cưỡi trên những con kỳ lân. Ngoài ra, người Skagos cũng là chủ đề của nhiều tin đồn đen tối.

Có những tuyên bố cho rằng, họ vẫn hiến tế con người cho những cây weirwood của họ, dùng ánh sáng giả để dụ những con tàu đi qua rồi phá huỷ chúng, họ cũng ăn thịt người trong trong suốt mùa đông.

Một chiến binh Skagos

Có thể nói người Skagos chắc chắn đã từng thực hành ăn thịt đồng loại, mặc dù phong tục này có còn tồn tại đến ngày nay hay không là vấn đề gây tranh cãi. The Edge of the World, một bộ sưu tập các câu chuyện và truyền thuyết được biên soạn bởi Maester Balder, người phục vụ cho Tổng chỉ huy Osric Stark trong suốt sáu mươi năm cầm quyền tại Trạm gác đông gần Biển, là nguồn chính của chúng ta biết về Skagos, trong đó có đề cập tới Bữa tiệc của Skane, khi đó một hạm đội tàu chiến của người Skagos đã cập bến một hòn đảo nhỏ gần đó của người Skane, hãm hiếp và bắt những người phụ nữ Skane trong khi giết chết những người đàn ông Skane và dùng thịt của họ làm món ăn trong một bữa tiệc kéo dài hai tuần. Chưa biết điều này có đúng hay không, Skane vẫn không có người ở cho đến ngày nay, mặc dù những tảng đá sụp đổ và những tàn tích phủ rêu phong chứng thực rằng đã từng  có người sinh sống giữa những ngọn đồi lộng gió và những bờ đá nhấp nhô này.

“Những con kỳ lân” của người Skagos đã từng bị chế giễu bởi những học giả tại Citadel. Thỉnh thoảng, “sừng kỳ lân” được cung cấp bởi những kẻ buôn bán vô đạo đức – đều được xem như là sừng của một loại cá voi nào đó bị săn bắt bởi những người săn cá voi của vùng Ib. Tuy nhiên, sừng của một loại khá khác biệt này – được cho là từ người Skagos – đã được nhìn thấy bởi những học giả tại Trạm gác Đông. Người ta cũng nói rằng những người đi biển đủ dũng cảm để giao thương với người Skagos đã thoáng thấy những vị lãnh chúa này cưỡi trên những con quái thú vĩ đại, xù xì, có sừng, leo trèo một cách phi thường trên những sườn núi cheo leo – như họ đã từng được biết về khả năng này. Một ví dụ nào đó chứng tỏ loài vật này còn sống – hoặc thậm chí là một mẩu xương – đã được tìm kiếm để nghiên cứu từ lâu, thế nhưng hiện vẫn chưa có bằng chứng gì về chúng được mang đến Oldtown.

Mặc dù hiếm khi rời khỏi hòn đảo của mình, những người stoneborn này từng có thói quen vượt qua Vịnh Hải cẩu để buôn bán hoặc hơn nữa, tấn công bất ngờ – cho đến khi Vua Brandon Stark, Đệ Cửu, phá vỡ quyền lực của họ một lần và mãi mãi,  phá hủy tàu của họ và cấm họ đi lại trên biển. Trong phần lớn lịch sử được ghi lại, họ vẫn là một tộc người sống cô lập, lạc hậu, man rợ, thích giết những người cập bến đến hòn đảo của họ để buôn bán với họ. Khi họ đồng ý giao dịch, Skagos cung cấp da dê, vũ khí từ đá núi lửa, đầu mũi tên, “sừng kỳ lân” để đổi lại những hàng hóa mà họ mong muốn.

Một số Skagos cũng đã phục vụ trong Đội Tuần đêm. Hơn một ngàn năm trước, một người Crowl (một nhánh được xem là danh giá của tộc người Skagos) thậm chí còn trở thành Tổng chỉ huy trong một thời gian, và trong Annals of the Black Centaur có nói về Stane (một nhánh khác của tộc người Skagos), đã vươn lên trở thành Lính biệt kích Đầu tiên nhưng người này sống không được bao lâu.

Skagos luôn là nguồn cơn gây rắc rối với nhà Stark – dù với tư cách là vua khi họ cả gan dám xưng danh hiệu đó, hay với tư cách là lãnh chúa khi họ chiến đấu để bảo vệ giữ lời thề trung thành với phe nào đó. Thật vậy, như dưới triều đại của vua Daeron II Targaryen (Daeron Nhân ái), hòn đảo này đã nổi lên chống lại Lãnh chúa Winterfell, một cuộc nổi loạn kéo dài nhiều năm và cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người, bao gồm cả Barthogan Stark, Lãnh chúa Winterfell (được gọi là Barth Blacksword), trước khi nó bị dập tắt.

6. Tộc người Crannog vùng Neck

Tộc cuối cùng trong các tộc người ở phương Bắc (và một số người có thể nói là tộc nhỏ nhất) là những người sống chui rúc trong các đầm lầy vùng Neck, được gọi là Crannogmen do họ xây nhà trên những hòn đảo ngập nước. Một tộc người nhỏ thó và ranh mãnh (một số người nói rằng họ có vóc dáng nhỏ bé như vậy là do họ có liên hệ với những đứa con của rừng rậm, nhưng có vẻ giống như là hậu quả của việc dinh dưỡng không đầy đủ thì đúng hơn, vì lúa mì không thể trồng được giữa các vùng đầm lầy và những bãi lầy ngập mặt vùng The Neck, và người Crannogmen tồn tại chủ yếu bằng cách ăn thuần cá, ếch nhái và thằn lằn, họ sống khá khép kín và ưa thích cuộc sống một mình.

Ở phía Nam vùng The Neck, những cư dân vùng riverland sống liền kề với họ nói rằng người crannogmen có thể thở được dưới nước, tay và chân của họ có màng như loài ếch, và tẩm độc trên những ngọn giáo và mũi tên của mình. Điều cuối cùng trong số những điều trên được coi là sự thật, rất nhiều những thương nhân đã đem về những loại thảo mộc hiếm cùng với vô số những đặc tính lạ về Citadel, vì các học sĩ luôn tìm kiếm những thứ này để có thể hiểu rõ hơn về đặc tính và giá trị của chúng. Nhưng những điều còn lại thì không có thật: Crannogmen là người thường, mặc dầu nhỏ thó hơn hầu hết người bình thường, dù cho họ sinh sống ở một nơi khác biệt nhất trên toàn Bảy Vương Quốc.

Người crannogman vùng Neck

Lịch sử đã chỉ ra rằng, từ rất lâu về trước, tộc Crannogmen đã từng bị cai trị bởi các Vua Đầm Lầy. Các ca sĩ mô tả về họ cưỡi những con sư tử lai thằn lằn và dùng những chiếc thương tẩm độc như những mũi lao, nhưng rõ ràng đây toàn là những chuyện hoang đường. Liệu những vị Vua Đầm Lầy này có thực sự là vua như chúng ta nghĩ không? Đại học sỹ Eyron đã ghi lại rằng người Crannogmen coi những vị vua của họ vốn ban đầu là những người bình đẳng với họ, nhưng được khai sáng bởi các vị thần – sự thật là điều này được bộc lộ ra ở những cặp mắt có màu khác lạ của họ, hoặc thậm chí là khả năng nói chuyện với các loại động vật giống như những đứa con rừng rậm có thể làm.

Dù sự thật có là gì chăng nữa, người cuối cùng được gọi với danh hiệu Vua Đầm Lầy, đã bị giết bởi Vua Rickard Stark (đôi khi còn được gọi với cái tên Sói Cười ở Phương Bắc, bởi tính cách tốt đẹp của ông), người kết hôn với con gái ông, tại đây tộc Crannogmen quỳ gối và chấp nhận quyền cai trị của Winterfell. Trong nhiều thế kỷ kể từ sau ngày đó, tộc Crannogmen đã trở thành những đồng minh trung thành của gia tộc Stark, dưới trướng của gia tộc Reed vùng Vịnh Nước Xám.

7. Những lãnh chúa của Winterfell

Sau Cuộc Chinh Phục và sự thống nhất của Bảy Vương Quốc, gia tộc Stark trở thành Hộ Thần Phương Bắc thay vì vua, thề trung thành với Ngai Sắt, và vẫn có quyền lực tối cao trên toàn bộ lãnh thổ của mình, chỉ khác biệt về cái tên. Mặc dù Torrhen Stark đã từ bỏ chiếc vương miện cổ của các vị Vua Mùa Đông, những người con trai của ông rõ ràng là không vui vẻ gì lắm dưới ách cai trị Targaryen, và một số trong số họ thường hay nói đùa về chuyện làm phản, và sẽ một lần nữa giương cờ gia tộc Stark dù cho Lãnh Chúa Torrhen có tán thành hay không.

Liệu tâm lý chống đối Targaryen có bắt đầu lắng xuống hay không bởi những việc làm của Nữ Hoàng Rhaenys Targaryen nhằm gắn kết đế chế non trẻ và đơn độc bằng các cuộc hôn nhân giữa các gia tộc lớn thì vẫn còn phải suy xét thêm. Việc con gái của Torrhen Stark được gả cho Lãnh Chúa xứ Vale trẻ tuổi và trông ốm yếu rất nổi tiếng, đây là một trong số rất nhiều những cuộc hôn-nhân-gìn-giữ-hòa-bình được sắp đặt bởi Rhaenys. Nhưng có những thư từ được lưu giữ lại ở Citadel cho thấy rằng gia tộc Stark chỉ chấp nhận sự sắp xếp này sau khi đã trải qua vô số tranh cãi, xung đột, và rồi toàn bộ những người anh em của cô dâu đã từ chối tham dự khi lễ thành hôn diễn ra.

Sau đó, người ta nói rằng gia tộc Stark cũng rất cay đắng khi Vua Già và Nữ Hoàng Alysanne ép họ phải cắt vùng New Gift và trao nó cho Hội Tuần Đêm; đây có thể cũng là một trong số những lí do mà Lãnh Chúa Torrhen Stark đã được đồng hành cùng với Corlys Velaryon và Công Chúa Rhaenys trong Đại Hội Đồng năm 101 AC.

Chúng ta đã từng nói về vai trò của gia tộc Stark trong Vũ Điệu Bầy Rồng. Cần bổ sung thêm rằng Lãnh Chúa Cregan Stark cũng đã chiếm được cực nhiều phần thưởng vì sự hậu thuẫn trung thành với Vua Aegon III… thậm chí không có nàng công chúa nào của hoàng gia được gả cho gia đình ông, như đã được thống nhất trong Hiệp ước Băng và Lửa được lập khi hoàng tử Jacaerys Velaryon bay tới Winterfell trên lưng con rồng của mình.

Mặc dù vào thời đó người ta nói rằng Lãnh Chúa Ellard Stark chấp thuận nhường vùng The Gift cho Hội Tuần Đêm một cách vui vẻ, và không cần phải thuyết phục nhiều, tuy nhiên sự thật lại là chuyện khác. Những lá thư được gửi bởi những người anh em của Lãnh Chúa Stark tới Citadel, đề nghị các học sĩ cung cấp những tiền lệ phản đối lại việc ép buộc các lãnh chúa phải hiến đất đai của mình, đã thể hiện rõ rằng gia tộc Stark không hề hứng thú gì với những thỏa thuận của Vua Jaehaerys. Có lẽ gia tộc Stark sợ rằng, dưới sự kiểm soát của Hắc Thành, vùng New Gift sẽ không thể tránh khỏi bị suy tàn – vì Hội Tuần Đêm luôn hướng sự quan tâm về phía Bắc và chẳng bao giờ quan tâm nhiều đến những lãnh địa mới của họ ở phía Nam. Và điều đó đã thực sự xảy ra thật, vùng New Gift giờ đây trở nên vô cùng hoang vu hẻo lánh do sự suy tàn của Hội Tuần Đêm và những cuộc cướp bóc ngày càng nhiều của bọn thảo khấu tới từ phía bên kia Bức Tường.

Sau Vũ Điệu Bầy Rồng, gia tộc Stark trở nên công khai trung thành với gia tộc Targaryen hơn trước. Thật vậy, người con trai và cũng là người thừa kế của Lãnh Chúa Cregan Stark đã chiến đấu dưới trướng của gia tộc Targaryen khi Rồng Trẻ táo bạo chinh phục xứ Dorne. Rickon Stark cũng đã chiến đấu rất dũng cảm, những chiến công của ông đôi khi được Vua Daeron ghi chép lại trong cuốn Cuộc Chinh Phục Xứ Dorne, và cái chết của Rickon phía ngoài Sunspear tại một trong số những trận chiến cuối cùng vẫn còn được tiếc thương ở Phương Bắc trong nhiều năm sau đó vì những rắc rối cứ đeo bám dai dẳng những triều đại nhà Stark của những người anh em cùng cha khác mẹ của ông, những rắc rối mà không phải ai cũng tài giỏi để giải quyết được như ông.

Trong nhiều thập kỷ sau đó, Phương Bắc đã chứng kiến gia tộc Stark phải đối đầu với một cuộc phản loạn của vùng Skagos, một cuộc cướp bóc đẫm máu bởi dân Đảo Sắt dưới sự chỉ huy của Dagon Greyjoy, và một cuộc xâm lăng của dân man tộc dẫn đầu bởi Raymun Râu Đỏ, Vua Phía Bên Kia Bức Tường vào năm 226 AC. Mỗi cuộc đụng độ xảy ra, nhiều thành viên gia tộc Stark lại ngã xuống. Tuy nhiên gia tộc này vẫn được duy trì với cơ ngơi hầu như không bị hao mòn – có lẽ nhờ vào cách xử lý quyết đoán của hầu hết các Lãnh Chúa Winterfell không để bị lôi kéo vào những âm mưu của triều đình phương Nam. Khi mà dòng dõi nhà Stark gần như bị xóa sổ bởi Vua Điên Aerys sau vụ Rhaegar bắt cóc Lyanna, một số kẻ xúi giục đã đổ lỗi cho Lãnh Chúa Stark quá cố, người có những liên minh thân cận và những mối quan hệ mật thiết đã gắn kết các gia tộc lớn lại với nhau và đảm bảo rằng họ sẽ cùng nhau hành động để phản đối tội ác của Vua Điên.

8. Winterfell

Tòa thành vĩ đại nhất phương Bắc không đâu khác chính là Winterfell, nơi cư trú của gia tộc Stark từ tận Kỷ Bình Minh. Huyền thoại kể lại rằng Brandon Kiến Thiết đã gây dựng nên Winterfell sau một mùa đông kéo dài cả một thế hệ được gọi bằng cái tên Đêm Trường, biến nó thành một thành trì cho những hậu duệ của mình, những vị Vua Mùa Đông. Vì Brandon Kiến Thiết đã được liên hệ với một số lượng lớn những công trình vĩ đại (Storm’s End và Bức Tường là hai cái tên nổi bật nhất có thể kể đến) trải dài qua những thế hệ khác nhau, vậy nên những câu chuyện có vẻ như đã cường điệu những vị vua cổ, hoặc là nhầm lẫn một số những vị vua khác nhau thuộc gia tộc Stark (bởi vì có rất nhiều Brandon trong triều đại dài lâu của gia tộc này) thành những huyền thoại không có thật.

Bản thân tòa lâu đài này cũng rất đặc biệt đó là gia tộc Stark không hề san phẳng mặt đất khi họ đặt những nền móng và dựng lên những bức tường của tòa thành. Có vẻ như là, điều này thể hiện rằng tòa thành được xây từng phần một qua nhiều năm chứ không được hoạch định như một công trình thống nhất. Một số học giả ngờ rằng nơi đây từng một thời là một tổ hợp rất nhiều pháo đài được liên kết với nhau, nhưng nhiều thế kỷ trôi qua đã xóa sạch những bằng chứng về điều này.

Những bức tường vòng ngoài cùng của Winterfell được dựng lên trong suốt hai thập kỷ cuối cùng của triều đại Vua Edrick Râu Tuyết. Dù cho Edrick rất nổi tiếng với một triều đại kéo dài gần một thế kỷ, sự cai trị lẩn thẩn của ông càng ngày càng trở nên thất thường. Nhận thấy điều này, rất nhiều những thế lực khác nhau đã cố gắng để tiếm quyền đế chế đang lung lay của ông. Những hiểm họa rõ ràng nhất đến từ chính những hậu duệ đông đúc – và bất kham – của ông, nhưng những kẻ khác cũng không bỏ qua cơ hội này, bao gồm Quần Đảo Sắt, những nô lệ từ phía bên kia biển hẹp, dân man tộc, và những thế lực cạnh tranh tại phương Bắc ví dụ như gia tộc Bolton.

Những bức tường phía trong, từng một thời là những bức tường phòng thủ duy nhất, đã khoảng 2000 năm tuổi, và có lẽ một số đoạn còn lâu đời hơn thế nữa. Trong những năm sau này, một hào phòng thủ được đào xung quanh chân tường, sau đó một bức tường thứ hai được dựng lên phía ngoài hào này, tạo cho tòa thành một hệ thống phòng thủ vững chắc. Những bức tường bên trong cao một trăm feet, những bức bên ngoài cao 80 feet, những kẻ tấn công nào thành công chiếm được vùng tường ngoài sẽ gặp ngay phải hàng phòng thủ ở tường trong ném giáo, đá và bắn tên xuống chúng.

Winterfell, cùng thị trấn mùa đông bao quanh những bức tường của nó

Chúng ta có thể bác bỏ những mô tả của Mushroom trong cuốn Lời Thú Tội rằng con rồng Vermax đã đẻ một ổ trứng ở đâu đó sâu trong những hầm mộ của Winterfell, nơi nước từ những mạch nước ngầm nóng chảy gần những bức tường, trong khi kỵ sĩ của nó gian díu với Cregan Stark vào thời kỳ đầu của Vũ Điệu Bầy Rồng. Như Đại Học Sỹ Gyldain đã ghi chú lại trong những mảnh tư liệu rời rạc của mình, không hề có ghi chép nào về việc Vermax từng để lại dù chỉ là một quả trứng, và khẳng định rằng con rồng này là rồng đực. Niềm tin rằng một con rồng có thể tự thay đổi giới tính khi cần thiết là hoàn toàn sai lầm, theo cuốn sách Sự Thật của Học sĩ Anson, bắt nguồn từ một hiểu lầm từ những pháp ẩn dụ cổ xưa mà Barth hay sử dụng để thảo luận về những điều huyền bí.

Bên trong những bức tường này, tòa lâu đài nằm trải dài qua nhiều mảnh đất cày cấy, bao quanh rất nhiều ngôi nhà được xây tự do. Cổ xưa nhất trong số này – một tòa tháp đã bị bỏ hoang từ lâu – bao quanh bởi rất nhiều những máng xối – được biết đến với cái tên First Keep. Một số người nói rằng cái tên này có ý nghĩa rằng nó được xây dựng bởi tộc Tiền Nhân, nhưng Học sỹ Kennet đã chứng minh chắc chắn rằng nó không thể tồn tại trước khi người Andalos đến bởi lẽ Tiền Nhân cũng như những người Andalos đầu tiên đều xây những tòa tháp và pháo đài hình vuông. Những tòa tháp tròn sau này mới bắt đầu được xây dựng.

Những mạch nước nóng giống như ở phía dưới Winterfell đã được chỉ ra rằng bị đốt nóng bởi bề mặt trái đất, cùng ngọn lửa ngầm đã tạo ra dãy núi Fourteen Flames hay ngọn núi tỏa khói của Dragonstone. Thế nhưng những dân thường của Winterfell và các thị trấn mùa đông đều cho rằng những mạch nước ngầm này bị đốt nóng bởi hơi thở của một con rồng đang ngủ phía dưới lâu đài. Điều này nghe còn ngu ngốc hơn cả những mô tả của Mushroom và không nên xem xét đến.

Với những cặp mắt am hiểu, thiết kế của Winterfell là hỗn hợp của rất nhiều kỷ nguyên khác nhau. Và sự rộng lớn của nó không chỉ bao gồm những tòa nhà, mà còn rất nhiều khoảng trống nữa. Thực tế, ba khoảnh đất trồng trọt đã được quy hoạch trở thành khu rừng thần cổ xưa, nơi mà những huyền thoại kể lại rằng Brandon Kiến Thiết từng cầu nguyện thần linh. Dù cho điều này có đúng hay không, thì sự cổ xưa của từng lùm cây nơi đây là không thể chối cãi. Và những cây thần chắc chắn đã được nuôi dưỡng bởi những mạch nước nóng phía dưới, bảo vệ chúng khỏi những cơn giá lạnh kinh khủng nhất của mùa đông.

Quả thực, sự hiện diện của mạch nước nóng – rải rác khắp những vùng đất quanh Winterfell- có lẽ là lí do chính mà những Tiền Nhân đã chọn định cư ở nơi đây. Ai cũng có thể dễ dàng hình dung ra giá trị của một nguồn nước vĩnh cửu – và thậm chí còn là nước nóng – khi mà mùa đông đến với Phương Bắc. Trong vài thế kỷ gần đây, gia tộc Stark đã dựng lên những công trình sử dụng trực tiếp những mạch nước nóng này để sưởi ấm cho những người trú ngụ.

9. Đội tuần đêm

Tổ chức đặc biệt nhất toàn Bảy Vương Quốc là Đội Tuần Đêm, hội những người huynh đệ ăn thề đã phòng thủ Bức Tường suốt nhiều thế kỷ và thiên niên kỷ, được khai sinh sau thời kỳ Đêm Trường, một mùa đông kéo dài cả một thế hệ đã đem lũ Ngoại Nhân đến với những vương quốc của loài người và suýt nữa thì tận diệt họ.

Lịch sử của Đội Tuần Đêm rất dài. Những câu chuyện vẫn còn kể về những người kỵ sĩ áo đen của Bức Tường và những cái tên đầy cao quý của họ cho tới tận ngày nay. Nhưng Kỷ Nguyên Anh Hùng đã trôi qua từ lâu, và Ngoại Nhân đã không còn lộ diện suốt hàng ngàn năm, nếu như chúng quả thực có tồn tại.

Lâu đài đen và Bức tường

Và cứ thế, năm này qua năm khác, Đội Tuần Đêm bắt đầu suy tàn. Những ghi chép của chính họ đã chỉ ra rằng sự suy tàn này đã bắt đầu kể từ trước cả thời của Aegon Nhà Chinh Phục và những chị em của ông. Dù cho những huynh đệ áo đen của Đội Tuần Đêm vẫn bảo vệ những vương quốc của loài người một cách cao thượng nhất có thể, nhưng những hiểm họa họ phải đối mặt không còn đến từ Ngoại Nhân, phù thủy, người khổng lồ, greenseer, warg, kẻ biến hình, và những loại quái vật khác trong những huyền thoại và câu chuyện cổ tích cho trẻ con, mà là những tên man tộc hoang dã được vũ trang bởi rìu đá và gậy gộc; chắc chắn là rất tàn ác, nhưng cũng chỉ là con người, và không xứng với những chiến binh cao quý.

Tuy nhiên không phải thời nào cũng vậy. Dù cho những huyền thoại có chính xác hay không, thì rõ ràng rằng những người Tiền nhân và những đứa trẻ của rừng rậm (và thậm chí cả người khổng lồ, nếu chúng ta tin vào những lời ca của các ca sĩ) đã sợ hãi điều gì đó đủ nhiều đến mức buộc họ phải dựng lên Bức Tường. Và công trình vĩ đại này, đơn giản như chính nó, chỉ được nhắc đến như một trong những kỳ quan của thế giới. Có lẽ nền móng ban đầu của nó là bằng đá – các học sỹ vẫn có những quan điểm khác nhau về điều này – nhưng giờ đây tất cả những gì có thể thấy được từ khoảng cách cả trăm dặm chỉ là băng tuyết. Nguyên liệu được lấy từ những cái hồ quanh đó, Tiền nhân tạc từng tảng đá khổng lồ và vận chuyển chúng bằng những chiếc xe trượt tuyết đến Bức Tường, và xếp chúng lại từng tảng một. Giờ đây, hàng ngàn năm sau, Bức Tường vẫn đứng sừng sững, nơi cao nhất là hơn 700 feet (dù vậy chiều cao của bức tường là khác nhau trên suốt chiều dài hàng trăm dặm, khi nó trải dài băng qua những vùng đất khác nhau)

Huyền thoại kể lại rằng những người khổng lồ cũng giúp xây Bức Tường, bằng sức mạnh vĩ đại của mình, họ vần những tảng băng lớn vào vị trí. Có lẽ cũng có một chút sự thật trong câu chuyện này dù cho những câu chuyện mô tả những người khổng lồ to và khỏe hơn nhiều so với họ ngoài đời. Cũng những huyền thoại này kể rằng những đứa trẻ của rừng rậm – những người không hề tự mình xây những bức tường bằng đá hay băng – đã yểm những phép thuật của họ lên công trình này. Nhưng những câu chuyện kể, như mọi khi, luôn rất mơ hồ.

Bên dưới cái bóng của bức tường làm từ băng này, Đội Tuần Đêm đã dựng lên mười chín tòa thành – dù cho chúng trông không giống bất cứ tòa thành nào khác trên toàn Bảy Vương Quốc, vì chúng không hề có tường bao bọc hay bất kỳ công trình phòng thủ nào khác bảo vệ (bản thân Bức Tường đã là quá đủ để chống lại mọi mối hiểm họa tới từ phương Bắc, và Đội Tuần Đêm yên tâm rằng họ chẳng có kẻ thù nào ở phía Nam cả).

Vĩ đại nhất và cũng cổ xưa nhất trong số các tòa thành này là Nightfort, nơi đây đã bị bỏ hoang trong suốt hai trăm năm trở lại đây, khi Đội Tuần Đêm suy yếu, kích cỡ của nó trở nên quá to và quá tốn chi phí để bảo dưỡng. Các học sĩ từng phục vụ tại Nightfort trong thời gian nó vẫn còn được sử dụng đã khẳng định rằng tòa lâu đài đã được mở rộng ra rất nhiều lần trong suốt nhiều thế kỷ và phần nhỏ còn sót lại của phiên bản ban đầu nơi đây là những đường hầm rất sâu chui ra từ những tảng đá phía dưới chân lâu đài.

Tuy nhiên trong suốt hàng ngàn năm, nơi đây đã hiện diện như là nơi đóng quân chính của Đội Tuần Đêm, tòa Nightfort cũng lưu giữ rất nhiều những huyền thoại về bản thân nó, một vài trong số đó đã được ghi chép lại trong cuốn Những Người Canh Giữ Bức Tường (Watchers on the Wall) của Đại Học Sĩ Harmune. Những câu chuyện cổ xưa nhất đều có nhắc đến huyền thoại Vua Đêm (Night’s King), Tổng Chỉ Huy đời thứ mười ba của Hội Tuần Đêm, người đã bị cáo buộc rằng đã qua đêm với một ả phù thủy nhợt nhạt như một cái xác và sau đó tự tuyên bố mình là vua. Trong suốt mười ba năm, Vua Đêm cùng với “nữ hoàng xác sống” của mình đã cai trị cùng nhau, cho tới khi Vua Mùa Đông, Brandon Đập Nát (Brandon the Breaker) (người ta kể rằng liên minh với Vua Phía Bên Kia Bức Tường, Joramun) đến và hạ bệ ông ta. Từ đó về sau, ông cũng xóa sổ cái tên thật của Vua Đêm khỏi lịch sử.

Tại Citadel, các đại học sỹ cực lực phản bác những câu chuyện này – dù cho một vài người công nhận rằng từng có một Tổng Chỉ Huy có ý đồ tự gây dựng một vương quốc riêng của mình trong những ngày đầu gây dựng Đội Tuần Đêm. Một số người cho rằng có lẽ nữ hoàng xác sống là một người phụ nữ đến từ vùng Barrowland, một người con gái của Vua Barrow. Vua Đêm từng được gán cho rất nhiều cái tên khác nhau: Bolton, Woodfoot, Umber, Flint, Norrey hay thậm chí là Stark, tùy thuộc vào mỗi nơi mà câu chuyện này được kể. Cũng như tất cả những câu chuyện khác, nó phụ thuộc vào những thêm thắt của người kể sao cho câu chuyện nghe có vẻ thương tâm nhất.

Những tòa thành của Hội Tuần Đêm:

Còn hoạt động:

  • Ảnh Tháp – The Shadow Tower
  • Hắc Thành – Castle Black (giờ đây là nơi cư ngụ của Tổng chỉ huy Hội Tuần Đêm)
  • Tháp canh phía Đông giáp biển – Eastwatch-by-the-sea

Đã bị bỏ hoang:

  • Tháp canh phía Tây giáp cây cầu – Westwatch-by-the-Bridge
  • Trạm phòng thủ của lính gác – Sentinel Stand
  • Đồn Xám – Greyguard
  • Thạch Môn – Stonedoor
  • Đồi Tuyết Trắng – Hoarfrost Hill
  • Dấu Băng – Icemark
  • Dạ Thành – The Nightfort
  • Hồ Sâu – Deeplake
  • Cổng Nữ Hoàng – Queensgate (từng một thời được gọi là Cổng Tuyết – Snowgate cho tới khi được đặt lại tên nhân danh Nữ Hoàng Nhân Hậu Alysanne)
  • Khiên Sồi – Oakenshield
  • Tháp canh gỗ giáp hồ – Woodwatch-by-the-pool
  • Sảnh Tang Tóc – Sable Hall
  • Cổng Sương Muối – Rimegate
  • Đồn Điền Dài – Long Barrow
  • Những Ngọn Đuốc – Torches
  • Đồn Lục – Greenguard

Đội Tuần Đêm, còn được biết đến như là hội chiến binh đầu tiên tại Bảy Vương Quốc (vì nhiệm vụ quan trọng nhất của các thành viên hội này là bảo vệ Bức Tường, và tất cả những kỹ năng họ được rèn luyện đều nhằm phục vụ cho nhiệm vụ này), đã chia những người huynh đệ ăn thề ra thành ba nhóm:

  • Hầu cận: những người cung cấp thức ăn, quần áo cho Đội, và tất cả những nhu yếu phẩm cần thiết khác họ cần để chiến đấu.
  • Thợ xây: những người đảm nhận nhiệm vụ bảo quản Bức Tưởng và những lâu đài.
  • Kỵ sỹ: những người có nhiệm vụ mạo hiểm tiến vào những vùng đất hoang dã phía bên kia Bức Tường chiến đấu với dân man tộc.

Lãnh đạo họ là những sĩ quan chỉ huy cấp cao của Đội, đứng đầu trong số những người này là Tổng Chỉ Huy. Bản thân ông ta cũng được chỉ định thông qua bỏ phiếu: những thành viên của Đội Tuần Đêm, từng người một – từ những kẻ từng là ăn trộm mù chữ, đến những thành viên của những gia tộc lớn – đều sẽ bỏ phiếu cho người mà anh ta tin rằng sẽ có khả năng lãnh đạo mình. Khi một người có nhiều phiếu hơn, anh ta sẽ có quyền chỉ huy Đội Tuần Đêm cho tới khi anh ta chết. Đây là một truyền thống đã được Đội Tuần Đêm giữ gìn rất tốt, và những cố gắng để lật đổ nó (như khi Tổng Chỉ Huy Runcel Hightower có ý định trao Đội Tuần Đêm lại cho đứa con hoang của mình khoảng hơn 500 năm trước) đều không thể tồn tại lâu.

Đáng buồn thay, sự thật quan trọng nhất về Đội Tuần Đêm ngày nay là sự suy tàn. Họ từng một thời phụng sự một sứ mệnh cao cả. Nhưng cho dù Ngoại Nhân có thực sự tồn tại, thì chúng cũng đã không còn được nhìn thấy trong hàng ngàn năm qua và không còn là mối hiểm họa cho loài người. Chính dân man tộc phía bên kia Bức Tường mới là những mối nguy mà Đội Tuần Đêm phải đối mặt. Thế nhưng cả những vị Vua Phía Bên Kia Bức Tường lẫn dân man tộc cũng chưa bao giờ thực sự là mối hiểm họa cho những vương quốc của loài người.

Những chi phí khổng lồ cho việc duy trì Bức Tường và những thành viên bảo vệ nó càng ngày càng trở nên không thể chịu đựng nỗi. Ngày nay chỉ còn ba trong số những lâu đài của Đội Tuần Đêm còn có người cai quản, và Đội chỉ có kích cỡ bằng một phần mười so với thời Aegon và các chị em của ông đặt chân tới, thế nhưng cho dù với cái kích cỡ hiện tại, Đội Tuần Đêm vẫn bị coi là một gánh nặng.

Một số người đã tranh luận rằng Bức Tường là một nơi vô cùng thích hợp để loại bỏ những tên giết người, hiếp dâm, trộm cắp khỏi đế quốc, trong khi một số khác thì vẫn đặt câu hỏi về việc có nên trao vũ khí vào tay những kẻ như thế và huấn luyện chúng kỹ năng chiến đấu hay không? Những cuộc cướp bóc của dân man tộc thường được coi là những phiền toái hơn là những mối đe dọa, rất nhiều những người thông thái đã cho rằng tốt nhất là nên giải quyết vấn đề này bằng cách cho phép các vị Lãnh Chúa Phương Bắc mở rộng lãnh thổ sang phía bên kia Bức Tường và họ sẽ có thể đẩy lùi lũ man tộc.

Chỉ có duy nhất một sự thật rằng binh lính Phương Bắc vẫn rất tôn trọng Đội Tuần Đêm mà nhờ đó mới giúp cho Đội còn tồn tại, và phần lớn lương thực nuôi sống những hắc huynh đệ của Hắc Thành, Ảnh Tháp, và Trạm gác phía Tây giáp biển không hề đến từ vùng The Gift, mà từ những món quà hàng năm mà những Lãnh Chúa Phương Bắc gửi đến Bức Tường như một biểu trưng cho sự ủng hộ của họ.

10. Man tộc

Tại những vùng đất phía bên kia Bức Tường có những tộc người rất khác nhau sinh sống – tất cả đều là hậu duệ của Tiền nhân – mà những người văn minh hơn ở phía Nam như chúng ta gọi họ bằng cái tên: Man tộc.

Đây không phải là cái tên họ tự gọi mình. Cộng đồng lớn nhất và đông đúc nhất trong số những tộc người sống phía bên kia Bức Tường tự xưng là những cư dân tự do, với niềm tin rằng những tập quán tàn bạo của họ đã cho phép họ sống một cuộc đời tự do hơn nhiều so với những kẻ quỳ gối phương Nam. Và sự thật rằng họ đã sống mà không hề có lãnh chúa hay vua nào và cũng không cần phải cúi mình trước bất cứ con người nào hay bất cứ tay thầy tu nào, bất kể dòng dõi, máu mủ hay nơi họ sinh ra.

Nhưng họ vẫn sống một cuộc sống có ý nghĩa, và họ không thể tự do thoát khỏi nạn chết đói, trong cái giá lạnh cực độ, giữa những cuộc chiến tàn bạo, và những màn cướp phá chính đồng loại của mình. Sự vô luật lệ ở phía bên kia Bức Tường chẳng có gì để mà đáng ganh tỵ cả, như rất nhiều người đã từng gặp dân man tộc đã chứng kiến tận mắt (và rất nhiều người đã được biết thông qua những thành quả ghi chép từ những kỵ sĩ của Đội Tuần Đêm). Sự khinh thường vì cái nghèo nàn của họ, với những chiếc rìu bằng đá và khiên bằng gỗ, và những tấm da dê đầy bọ chét, và điều đó chính là một phần lí do họ bị xa lánh bởi những con người của Bảy Vương Quốc.

Những bộ lạc và tộc người nhiều vô số kể của dân tự do vẫn còn thờ phụng những vị cổ thần của Tiền nhân và những đứa trẻ rừng rậm, những vị thần của những cây weirwood (một số ghi chép nói rằng có những người thờ nhiều vị thần khác nhau: những vị thần bóng tối bên dưới những vùng đất ở Frostfang, những vị thần tuyết và băng giá ở Frozen Shore, hay những vị thần cua ở Storrold’s Point, nhưng những điều này chưa từng được chính thức xác nhận)

Những tên cướp man tộc quấy rầy đế quốc chủ yếu là vì sắt và thép – những thứ mà chúng không tự làm ra được. Rất nhiều những tên cướp được trang bị vũ khí làm từ gỗ và đá, thậm chí một số trường hợp là sừng. Một số tên mang những cái rìu và dao bằng đồng, nhưng thậm chí những thứ này cũng chẳng có nhiều giá trị. Những tên chỉ huy nổi tiếng nhất trong số chúng thường mang những món đồ bằng thép cướp được, đôi khi là đoạt được từ chính những kỵ sỹ của Đội Tuần Đêm đã bị chúng giết.

Những kỵ sỹ của Đội Tuần Đêm vẫn còn nói về những kẻ lạ mặt ẩn mình tại những vùng đất xa xôi hơn phía bên ngoài Bức Tường, về những chiến binh mặc giáp đồng trong những thung lũng bí ẩn rất xa về phía Bắc, và tộc Hornfoot luôn đi chân trần thậm chí trên địa hình băng và tuyết. Chúng ta đã biết về những con người hoang dã sống tại vùng Frozen Shore trong những cái chòi bằng băng và đi trên những chiếc xe trượt tuyết kéo bởi bọn chó săn. Có khoảng nửa tá bộ lạc sinh sống trong những hang đá, và có những tin đồn về những bộ lạc ăn thịt người sống trên thượng nguồn của dòng sông băng phía bên kia Bức Tường. Nhưng rất hiếm kỵ sỹ từng thâm nhập quá năm mươi dặm vào trong những khu rừng ma ám, và không nghi ngờ gì nữa, vẫn còn rất nhiều tộc người man di mà họ không thể tưởng tượng nổi.

Man tộc

Hiểm họa đặt ra đối với đế quốc bởi những con người man rợ này đều có thể được giải quyết dễ dàng, ngoại trừ một vài lần, khi chúng đoàn kết lại dưới trướng của một tên Vua Phía Bên Kia Bức Tường. Dù cho rất nhiều những tên cướp và thủ lĩnh từng khao khát danh hiệu này, rất hiếm kẻ có thể thực sự đoạt được nó. Chưa hề có tên man tộc nào từng trỗi dậy trở thành Vua Phía Bên Kia Bức Tường mà có thể xây dựng được một vương quốc thực sự hoặc có lòng quan tâm đến dân chúng của mình, thực tế thì, những kẻ này là những tên chiến tướng, chứ không phải là minh quân, và cho dù những tên vua khác nhau có những điều khác biệt, thì tất cả đều chung một hành động là dẫn người của mình chống lại Bức Tường, với hy vọng có thể vượt qua nó và tràn xuống phía Nam, chinh phục Bảy Vương Quốc.

Vua Phía Bên Kia Bức Tường đầu tiên, căn cứ theo những câu chuyện kể, là Joramun, kẻ tuyên bố rằng mình có một chiếc tù và có thể đánh sập Bức Tường khi nó đánh thức “những tên khổng lồ từ dưới lòng đất”. (Việc Bức Tường vẫn còn đứng vững cũng đã nói lên một đôi điều về tuyên bố của hắn, và có lẽ là cả về việc hắn có tồn tại hay không nữa)

Hardhome từng một thời là thị trấn duy nhất từng được dựng lên trên những vùng đất phía bên kia Bức Tường, được dựng lên tại Storrold’s Point và kiểm soát một cảng nước sâu. Nhưng 600 năm trước, nơi đây đã bị thiêu rụi và cư dân ở đây bị tận diệt, dù vậy Đội Tuần Đêm cũng không thể nói chính xác điều gì đã xảy ra. Một số nói rằng những tộc ăn thịt người từ Skagos đã tấn công họ, một số khác thì nói rằng là lỗi của những tên nô lệ tới từ phía bên kia biển hẹp. Những câu chuyện kỳ lạ nhất, từ những chiếc thuyền do Đội Tuần Đêm phái đi điều tra, kể về những tiếng gào thét kinh khủng vang vọng xuống từ những vách đá phía trên Hardhome, ở nơi mà không hề có người sống. Ghi chú hấp dẫn nhất về Hardhome có thể tìm thấy trong cuốn Hardhome: Một ghi chép về Ba Năm sinh sống bên ngoài Bức Tường giữa những tên man rợ, cướp, và phù thủy của Học Sỹ Wyllis. Willys du ngoạn tới Hardhome trên một con thuyền buôn từ Pentos và trở thành một thầy thuốc kiêm một nhà hòa giải để ông có thể viết về những phong tục của họ. Ông có được sự bảo trợ của Gorm Sói – một thủ lĩnh chia sẻ quyền cai trị Hardhome với ba thủ lĩnh khác. Tuy nhiên, khi Gorm bị giết hại trong một cuộc ẩu đả say xỉn, Wyllis cảm thấy một mối nguy chết người và vội vàng bỏ trốn về Oldtown. Nơi đây ông đã tiến hành những ghi chép của mình, và rồi biến mất ngay vào năm sau khi tác phẩm của mình hoàn thành. Những người ở Citadel nói rằng lần cuối người ta thấy ông là ở bến tàu, tìm kiếm một con thuyền có thể đưa ông tới Tháp Canh Phía Tây Giáp Biển.

Hai anh em Gendel và Gorne đã cùng nhau làm vua 300 năm trước. Chỉ huy lực lượng của mình tiến xuống lòng đất vào một mê cung những hang động ngầm chằng chịt, chúng bí mật vượt qua Bức Tường và tấn công Phương Bắc. Gorne đã giết chết vua Stark trong trận chiến, sau đó lại bị giết bởi người thừa kế của nhà vua, và Gendel cùng với tàn quân man tộc còn sót lại rút lui vào trong những hang động của chúng, không bao giờ xuất hiện trở lại nữa.

Man tộc tập trung phía bên dưới Bức Tường

Lãnh Chúa Sừng cũng tiếp bước chúng một ngàn năm sau (hay có lẽ là hai). Tên của hắn đã biến mất khỏi lịch sử, nhưng người ta kể lại rằng hắn đã sử dụng pháp thuật để vượt qua Bức Tường. Sau hắn, nhiều thế kỷ sau, tới lượt Bael Nhạc Công, những bài hát của hắn vẫn còn được hát ở phía bên kia Bức Tường … nhưng vẫn có nhiều nghi vấn về việc hắn ta có thực sự tồn tại hay không. Những tên man tộc thì nói hắn ta có tồn tại và ghi nhận hắn là tác giả của rất nhiều bài hát, nhưng những tư liệu cổ ở Winterfell không hề nhắc gì về hắn cả. Hoặc là cuộc chiến này đã có kết cục thảm bại và hắn đã bị đánh bại tan nát trước khi kịp đến được Winterfell (bao gồm cả việc, theo một câu chuyện hư cấu nhất, làm nhục một cô hầu gái nhà Stark và làm cô mang thai), hoặc là hắn chưa bao giờ từng tồn tại.

Lũ man tộc kể cho nhau rằng Gendel và người dân của hắn đã lạc rồi bị kẹt trong những hang động và vẫn còn lang thang ở trong đó cho tới ngày nay. Tuy nhiên, theo lịch sử kể lại bởi các kỵ sỹ, thì Gendel cũng đã bị giết, và chỉ có một nhóm nhỏ lính của hắn còn sống sót để rút lui vào trong lòng đất.

Tên Vua Phía Bên Kia Bức Tường cuối cùng từng vượt qua Bức Tường là Raymun Râu Đỏ, kẻ đã tập hợp man tộc vào năm 212 và 213 AC. Tuy nhiên phải đến năm 216 AC thì hắn cùng dân man tộc mới có thể tràn qua Bức Tường bằng cách trèo lên những khối băng thẳng đứng và xuống ở phía bên kia với lực lượng hàng trăm, hàng nghìn.

Lực lượng của Raymun lên đến hàng nghìn người, theo tất cả ghi chép, và chúng mở đường máu xuống phía Nam tới tận Long Lake. Tại đây, Lãnh Chúa William Stark và Gã Khổng Lồ Say, Lãnh Chúa Harmond thuộc gia tộc Umber, đã điều quân đối đầu với chúng. Với hai đạo quân bao vây mình, và một cái hồ lớn sau lưng, Râu Đỏ đã chiến đấu tới chết, nhưng cũng đã kịp hạ gục Lãnh Chúa William.

Khi Đội Tuần Đêm cuối cùng cũng xuất hiện, dẫn đầu bởi Tổng chi huy của họ là Jack Musgood (còn được gọi là Jack Musgood Vui Vẻ trước cuộc xâm lăng này, và sau đó thì được gọi là Jack Musgood Ngủ Gật), thì lúc này trận chiến đã kết thúc và Artos Stark giận dữ (em trai của Lãnh Chúa William quá cố, được biết đến như là chiến binh dũng mãnh nhất của thời ông) giao cho các hắc huynh đệ nhiệm vụ chôn những người chết. Ít nhất thì nhiệm vụ này họ cũng đã hoàn thành xuất sắc.

Nguồn BapStory
Bình luận
Loading...