Trò chơi vương quyền – Xứ Vale và Gia tộc Arryn

1. Xứ Vale

Vùng Vale của gia tộc Arryn- một thung lũng dài, rộng và bằng phẳng hoàn toàn được bao bọc bởi dãy Núi Mặt Trăng hùng vĩ – là một nơi vừa giàu có vừa tuyệt đẹp. Có lẽ đây chính là lí do vì sao mà những người chinh phạt Andalos đầu tiên đã chọn nơi đây làm điểm dừng chân khi họ băng qua biển hẹp nhân danh những vị thần của mình. Bằng chứng của điều này nằm ngay trên những tảng đá được chạm khắc khắp vùng Fingers, mang những hình ngôi sao, hình những thanh gươm, rìu hoặc búa. Cuốn sách thiêng liêng của Hội Đức Tin, Ngôi Sao Bảy Cánh, có nói về một “mảnh đất vàng giữa những rặng núi” khi Hugor vùng Đồi nhìn ra được tương lai về một mảnh đất quý giá một ngày kia sẽ thuộc về người Andalos.

Bị cô lập với phần còn lại của Westeros bởi những rặng núi bao quanh, vùng Vale đã chứng tỏ là vùng đất hoàn hảo cho người Andalos xây dựng vương quốc đầu tiên của mình trên vùng đất mới này. Tiền Nhân, đã ở đây từ trước cả người Andalos, đã chiến đấu chống lại những nhà chinh phục từ đại dương này rất kiên cường, nhưng vùng Vale thời này rất thưa người, và họ nhanh chóng bị áp đảo về quân số trong mọi trận chiến. Ngay khi một chiến thuyền bốc cháy hoặc bị đuổi ngược ra biển, những ca sĩ kể lại, thì ngay lập tức là mười chiến thuyền khác trở lại vào bình minh. Không chỉ Tiền Nhân không mạnh mẽ được như người Andalos, những chiếc rìu bằng đồng và áo giáp đồng của họ cũng rõ ràng là không tương xứng với kiếm thép và áo giáp bằng thép của người Andalos.

Thêm nữa, vùng Vale và những cư dân lân cận cũng bị chia nhỏ ra thành rất nhiều những vương quốc nhỏ lẻ khi mà những người Andalos đầu tiên đặt chân lên bờ biển, với hình ngôi sao bảy cánh được vẽ (hoặc một số trường hợp là khắc) lên ngực họ. Bị chia rẽ bởi những mối thù hận cổ xưa, những vị vua của Tiền Nhân đã không đoàn kết lại để chống những kẻ xâm lược khi họ mới xuất hiện mà lại thỏa hiệp hoặc liên minh với họ, muốn dùng những kẻ mới đến để chống lại những vương quốc khác. (Một suy nghĩ dại dột rất quen thuộc đã xảy ra hết lần này đến lần khác trong suốt quá trình người Andalos lấn chiếm rộng ra toàn Westeros).

Dywen Shell và Jon Brightstone, cả hai đều tranh dành chức vị Vua xứ Fingers, đã đi xa tới mức trả tiền cho những lãnh chúa người Andalos để họ vượt biển, cả hai đều có mục đích nhằm dùng lực lượng này để chống lại người kia. Thay vào đó thì những lãnh chúa Andalos đã trở mặt với cả hai người. Trong vòng một năm, Brightstone đã bị bắt, bị tra tấn và chặt đầu, còn Shell thì bị nướng sống bên trong tòa sảnh bằng gỗ của chính mình. Một hiệp sỹ Andalos tên là Corwyn Corbray lấy một người con gái của Brighstone làm vợ và lấy vợ của Shell làm nhân tình, và chiếm lấy toàn bộ xứ Finger về tay mình (dù vậy Corbray, không giống với những bằng hữu của mình, chưa từng bao giờ tự xưng là vua, và thích thú với kiểu cách xưng danh hiện đại hơn là Lãnh Chúa Vùng Năm Ngón Tay).

Xa hơn về phía Nam, thị trấn cảng giàu có Gulltown trên Vịnh Cua được cai trị bởi Osgood Shett, Đệ Tam, một chiến binh già nhăn nheo đang nắm giữ tước hiệu cổ xưa và cao quý Vua Của Những Người Đàn Ông Đích Thực, một kiểu danh hiệu từ thời mười ngàn năm trước, từ kỷ Bình Minh. Dù cho bản thân Gulltown đã được bảo vệ bằng lớp tường thành rất dày, Vua Osgood và những hậu duệ của ông từ lâu đã phát động chiến tranh với Những Vị Vua Đồng vùng Runestone, một nước láng giềng hùng mạnh hơn thuộc về một gia tộc cổ xưa và nhiều truyền thống y như của họ. Yorwick Royce, Đệ Lục, đã đội chiếc vương miện cổ từ khi cha ông chết trong trận chiến ba năm trước đó, và đã chứng tỏ rằng mình là một kẻ thù đáng gờm, đã đánh bại Shett chỉ trong vài trận chiến và đẩy lui họ cố thủ sau những bức tường.

Thật là dại dột, Vua Osgood lại chuyển sang cầu viện sự giúp đỡ từ những người Andalos để lấy lại những gì đã mất. Để tránh số phận như với Shell và Brighstone, ông ràng buộc đồng minh của mình bằng máu mủ thay vì vàng, ông gả con gái mình cho một hiệp sỹ Andalos, Gerold Grafton, và cưới luôn người con gái lớn nhất của Ser Gerold làm vợ, rồi cưới người con gái thứ của Gerold cho người con trai và cũng là người thừa kế của ông. Tất cả những lễ thành hôn này đều được chủ trì bởi các thầy tu, theo nghi lễ Thất Diện Thần ở phía bên kia biển hẹp. Shett thậm chí còn đi xa tới mức đích thân cải đạo sang gia nhập Hội Đức Tin, thề rằng sẽ xây dựng một nhà thờ lớn tại Gulltown sau khi Thất Diện Thần ban cho ông ta chiến thắng. Sau đó ông ta tiến quân cùng với những đồng minh Andalos tới đối đầu với Vua Đồng.

Vua Osgood đã thắng, nhưng bản thân ông lại không sống sót được qua trận chiến, và sau đó, người dân Gulltown và những Tiền Nhân khác thường xì xào rằng chính Ser Gerold đã đích thân hạ ông ta. Ngay khi trở về thị trấn, lãnh chúa người Andalos đã chiếm lấy vương miện cho riêng mình, phế truất đứa con thứ của Shett và giam anh ta trong phòng ngủ cho tới khi anh ta và con gái của Ser Gerold sinh được một đứa con (sau đó người cha cũng mất tích).

Khi Gulltown nổi dậy chống lại ông, Vua Gerold đã đàn áp những cuộc phản loạn một cách đẫm máu, và rất nhanh chóng những mương nước trong thị trấn bị nhuộm đỏ bởi máu những người lính Tiền Nhân… và tất nhiên cả phụ nữ và trẻ em nữa. Những xác chết bị ném xuống vịnh để làm mồi cho cua. Trong những năm sau đó, triều đại cai trị của Gia tộc Grafton tiếp tục được duy trì, vì (ngạc nhiên thay) Ser Gerold đã chứng tỏ mình là một người cai trị thông minh và nhân từ, và thị trấn phát triển rất thịnh vượng dưới sự cai trị của ông cùng những người kế nhiệm, nổi lên trở thành thành phố đầu tiên và duy nhất của vùng Vale.

Không phải tất cả những ông vua và lãnh chúa của Tiền Nhân đều ngu ngốc mời những kẻ chinh phục đến nhà mình. Rất nhiều người đã lựa chọn chiến đấu. Nổi bật nhất trong số này là Vua Đồng đã được đề cập ở trên, Yorwick Đệ Lục vùng Runestone, người đã dẫn dắt gia tộc Royce thắng một vài trận đánh trước người Andalos, chẳng hạn như đã đánh đắm 7 chiếc tàu lớn dám đổ bộ vào bờ biển cùa ông và trang trí những bức tường thành của Runestone bằng đầu của những thuyền trưởng và thủy thủ đoàn. Những người thừa kế của ông tiếp tục chiến đấu sau ông, vì những cuộc chiến giữa Tiền Nhân và người Andalos kéo dài qua nhiều thế hệ.

Vị Vua Đồng cuối cùng là cháu trai của Yorwick, Robar Đệ Nhị, người được thừa kế Runestone từ cha mình chưa đầy hai tuần trước ngày sinh nhật tuổi 16 tuy nhiên đã chứng tỏ mình là một chiến binh đủ dũng mãnh và xảo quyệt lẫn trí tuệ để gần như đã thành công trong việc đẩy lui người Andalos.

Vào thời điểm đó, người Andalos đang kiểm soát ba phần tư thung lũng Vale và cũng bắt đầu xung đột với nhau, giống như Tiền Nhân trước kia. Robar Royce đã nhận ra cơ hội trong sự bất hòa của họ. Dọc thung lũng Vale, một số nhóm nhỏ Tiền Nhân vẫn tiếp tục chống lại người Andalos, gia tộc Redfort của vùng Redfort, gia tộc Hunter vùng Longbow Hall, gia tộc Belmore vùng Strongsong, và gia tộc Coldwater vùng Coldwater Burn là những lực lượng chính trong số này. Lần lượt, Robar kết liên minh với từng gia tộc một, cùng với rất nhiều những bộ lạc và gia tộc nhỏ lẻ khác, liên kết họ lại bằng những cuộc hôn nhân, ban đất đai, vàng, và (trong một trường hợp đặc biệt) bằng cách hạ Lãnh Chúa Hunter trong một cuộc thi bắn cung (huyền thoại kể lại rằng Vua Robar đã gian lận). Tài thương thảo của ông xuất sắc tới mức ông thậm chí còn kết được liên minh với Ursula Upcliff, một pháp sư vô cùng nổi tiếng tự xưng mình là vợ của Vua Merling.

Rất nhiều lãnh chúa tập hợp dưới trướng của ông từng là những vị vua nhỏ, nhưng giờ họ từ bỏ vương miện của mình, quỳ gối trước Robar Royce và công nhận ông là Đức Vua Tối Cao của vùng Vale, vùng Finger, và vùng Núi Mặt Trăng.

Trận Chiến Ngôi Sao Bảy Cánh

Cuối cùng cũng đoàn kết lại được với nhau như một dân tộc dưới quyền một người cai trị duy nhất, Tiền Nhân bắt đầu thắng được một số trận chiến ác liệt trước những kẻ chinh phục đang chia rẽ và bất hòa. Rất thông thái, Vua Robar không hề có ý định tấn công tất cả người Andalos ở mọi nơi để đánh đuổi chúng ra khỏi bờ biển. Thay vào đó, ông tấn công từng kẻ thù một, thậm chí còn liên kết với một thủ lĩnh người Andalos để hạ bệ một kẻ khác.

Vua vùng Finger là kẻ đầu tiên bị hạ bệ. Huyền thoại kể rằng chính Vua Robar đã đich thân giết chết Qyle Corbray, sau khi đánh văng thanh kiếm nổi tiếng của Corbray khỏi tay ông ta, thanh Quý Cô Forlorn. Gulltown được tái chiếm bằng vũ lực khi Robar cử chính người em gái của mình vào trong thị trấn để thuyết phục gia tộc Shett nổi dậy chống lại gia tộc Grafton và mở cổng thành. Cây Búa Vùng Núi, vị vua Andalos nắm giữ vùng cận đông của xứ Vale, là người tiếp theo phải đối mặt với lực lượng mới nổi lên của Tiền Nhân và đã ngã xuống trước cả khi lực lượng của Vua Robar vào được bên trong những bức tường thành của Ironoaks. Trong một thoáng chốc tỏa sáng và tự tin, có vẻ như Tiền Nhân sẽ có thể chiếm lại đất đai của mình dưới sự dẫn dắt của vị vua trẻ dũng cảm.

Nhưng điều đó đã không xảy ra. Chiến thắng mà Robar vừa dành được là chiến thắng cuối cùng của chàng, vì những vị vua và lãnh chúa nhỏ người Andalos đã bắt đầu nhận ra mối hiểm họa từ họ. Và giờ đến lượt người Andalos cũng gác lại những sự khác biệt vì mục tiêu chung và đoàn kết lại dưới trướng của một thống lĩnh. Người mà họ chọn để dẫn dắt mình không phải là vua, cũng không phải hoàng tử, thậm chí không phải là một lãnh chúa, mà là một hiệp sỹ tên là Ser Artys Arryn. Một người trẻ tuổi, trạc tuổi Vua Robar, và được tôn vinh là chiến binh xuất sắc nhất thời đó, một nhà vô địch với cả kiếm lẫn thương và chùy, với cả sự xảo quyệt lẫn khả năng lãnh đạo, được yêu mến bởi tất cả những người đã từng chiến đấu bên cạnh mình. Dù cho mang trong mình dòng máu Andalos thuần chủng, Ser Artys được sinh ta tại xứ Vale dưới bóng rặng núi Giant’s Lance, nơi những con đại bàng bay lượn giữa những vách núi lởm chởm. Trên chiếc khiên của mình, chàng khắc biểu tượng đại bàng và mặt trăng, và trang trí chiếc mũ bạc của mình với biểu tượng đôi cánh đại bàng. Hiệp Sỹ Đại Bàng, người ta gọi chàng bằng cái tên này cho tới ngày nay.

Để nói về những điều xảy ra tiếp theo, chúng ta lại phải quay về với những bài hát và những huyền thoại. Những ca sĩ kể lại rằng hai đạo quân đối đầu nhau tại chân núi Giant’s Lance, cách ngôi nhà nơi Ser Artys sinh ra chưa tới một dặm. Cho dù hai đạo quân gần như ngang nhau về số lượng, Robar Royce có lợi thế hơn nhờ chiếm được vị trí cao hơn và rặng núi ở phía sau lưng, một vị trí phòng thủ cực kỳ thuận lợi.

Đến nơi trước người Andalos nhiều ngày, Tiền Nhân đã đào những chiếc hào phía trước hàng ngũ của mình và cắm những chiếc cọc nhọn trên đó (bôi đầy phân và chất bẩn, theo những ghi chép của Thầy Tu Mallow về trận chiến). Hầu hết phía Tiền Nhân là bộ binh, người Andalos có lợi thế về kỵ binh đông gấp mười lần và được trang bị vũ khí cũng như áo giáp tốt hơn. Họ đến chiến trường muộn hơn, theo như những câu chuyện kể, Vua Robar đã đợi sẵn họ từ ba ngày trước.

Khi người Andalos xuất hiện thì đã là hoàng hôn, họ dựng lều cách kẻ thù khoảng nửa dặm. Nhưng dù cho trong khung cảnh đang tối dần, Robar Royce vẫn nhận ra được thủ lĩnh của kẻ thù. Bộ giáp bạc và chiếc mũ có cánh khiến cho Hiệp Sỹ Đại Bàng không lẫn đi đâu được dù cho có nhìn từ rất xa.

Chắc chắn rằng đêm đó sẽ là một đêm không ngơi nghỉ trong cả 2 doanh trại, vì tất cả những con người ở đây đều hiểu rằng trận chiến sẽ bắt đầu vào lúc bình minh, với số phận vùng Vale chờ được định đoạt. Những đám mây dạt về từ phía Đông, che lấp mặt trăng và những vì sao, nên màn đêm trở nên tăm tối. Ánh sáng duy nhất đến từ hàng trăm ngọn lửa được đốt lên trong các doanh trại, bóng tối như những dòng sông đen chảy giữa chúng. Hết lần này đến lần khác, những ca sĩ kể lại rằng, những cung thủ ở phe này hay phe kia bắn một mũi tên lên không trung, hy vọng rằng mũi tên sẽ găm trúng một kẻ thù, nhưng liệu những mũi tên bắn đại đó có lấy được mạng người nào không thì chẳng có câu chuyện nào kể lại cả.

Khi phía đông bắt đầu hừng sáng, những người đàn ông bật dậy khỏi những chiếc giường bằng đá, mặc giáp trụ, chuẩn bị cho trận chiến. Rồi một tiếng hét lớn vang lên phía doanh trại Andalos. Từ phía Tây, một lá cờ hiện ra: hình ngôi sao bảy cánh, bay phấp phới trên nền trời bình minh xám xịt. “Các vị thần ủng hộ chúng ta,”, theo sau là tiếng hò hét của hàng ngàn con người. “Chiến thắng là của chúng ta”. Khi hồi kèn vang lên, những chiếc khiên của người Andalos cùng tấn công ngược lên trên những con dốc, những là cờ bay phấp phới. Nhưng Tiền Nhân cũng không hề tỏ ra mất tinh thần với cảnh tượng ấy, họ trụ vững vị trí của mình và trận chiến bắt đầu, đẫm máu và tàn bạo y như bất cứ trận chiến nào khác trong lịch sử lâu dài vùng Vale.

Bảy lần người Andalos tấn công, các ca sĩ kể lại, sáu lần Tiền Nhân đẩy lùi họ. Nhưng vào lần tấn công thứ bảy, dẫn đầu bởi một chiến binh dũng mãnh khổng lồ tên là Torgold Tollett, đã phá vỡ được hàng phòng thủ. Torgold Hung Tợn, người ta gọi anh như vậy, nhưng thậm chí cái tên đó cũng chưa chính xác hoàn toàn, bởi vì người ta kể lại rằng anh lao vào trận chiến và cười vang, nửa thân trên ở trần, với một hình khắc ngôi sao bảy cánh lớn trên ngực và hai tay đều cầm rìu.

Những bài ca kể lại rằng Torgold không hề biết đến sợ hãi hay đau đớn. Dù vẫn đang chảy máu do bị nhiều vết thương, anh mở một con đường máu xuyên qua hàng rào những chiến binh vững chắc của Lãnh chúa Redfort, rồi chặt đứt cánh tay của vị lãnh chúa này chỉ với một nhát chém. Anh ta cũng không hề mất tinh thần khi pháp sư Ursula Upcliff xuất hiện trên lưng một con ngựa đỏ như máu và định nguyền rủa anh. Lúc đó anh ta đang không còn vũ khí, cả hai chiếc rìu đều đang bị kẹt lại trong lồng ngực của kẻ thù, nhưng những ca sĩ kể lại rằng anh ta nhảy lên con ngựa của pháp sư, tóm lấy mặt cô ta bằng đôi tay đầy máu, và bẻ gãy cổ cô ta khi cô ta đang gào thét kêu cứu.

Hỗn loạn nổ ra ngay sau đó, khi người Andalos tràn qua hàng ngũ phòng thủ của Tiền Nhân. Chiến thắng dường như đã trong tầm tay, nhưng Robar Royce không dễ dàng bị đánh bại. Nếu là một người khác thì đã phải rút lui để tập hợp lại lực lượng, hoặc bỏ chạy, nhưng Đức Vua Tối Cao lại ra lệnh phản công. Chàng đích thân chỉ huy cuộc phản công này, lao xuyên qua chiến trường hỗn độn với những chiến tướng theo sau. Trong tay chàng là thanh kiếm Quý Cô Forlorn, thanh kiếm đáng gờm mà chàng đã đoạt được từ tay Vua vùng Finger quá cố. Liên tục hạ gục kẻ thù hết bên trái tới bên phải, nhà vua mở đường máu tới thẳng nơi Torgold Hung Bạo. Khi Robar chém vào đầu hắn, Tollet chụp lấy lưỡi gươm, vẫn cười vang… nhưng thanh Quý Cô Forlorn cắt xuyên qua đôi tay hắn và găm thẳng vào hộp sọ.

Gã khổng lồ chết và nụ cười của hắn tắc nghẹn, các ca sỹ kể lại như vậy. Tại đây, Đức Vua Tối Cao đã phát hiện ra vị trí của Hiệp Sỹ Đại Bàng và lao tới anh ta, chỉ cần người lãnh đạo của chúng chết, người Andalos sẽ mất hết sĩ khí và tan rã, chàng hy vọng thế.

Họ đụng độ nhau giữa chiến trường thịnh nộ, vị vua trong áo giáp đồng, người anh hùng thì trang bị thép và bạc. Dù cho áo giáp của Hiệp Sỹ Đại Bàng tỏa sáng rực rỡ trong ánh nắng ban mai, thanh kiếm của chàng lại không phải là Quý Cô Forlorn. Trận đấu suýt nữa đã kết thúc ngay trước khi nó kịp bắt đầu, khi thanh kiếm thép Valyria lướt qua chiếc mũ có cánh và khiến người hiệp sỹ Andalos phải nằm xuống. Trong một khoảnh khắc, khi kẻ thù ngã nhào khỏi yên ngựa, Robar Royce chắc hẳn đã nghĩ rằng mình đã thắng trận đấu.

Sau đó chàng nghe thấy tiếng kèn, vang vọng trong không trung của buổi bình minh, âm thanh đến từ phía sau chàng. Quay người lại trên yên ngựa, Đức Vua Tối Cao sững sờ mất tinh thần khi năm trăm kỵ sỹ Andalos lao xuống từ trên đỉnh dốc của dãy núi Giant’s Lance và lao thẳng vào lực lượng của chàng từ phía nách. Dẫn đầu cuộc tấn công là một chiến tướng mặc giáp bạc, với biểu tượng đại bàng và mặt trăng trên khiên, đôi cánh trên mũ. Ser Artys Arryn đã cử một hiệp sỹ đóng giả trong bộ giáp bạc của chính mình, để anh ta lại doanh trại trong khi bản thân chàng dẫn những kỵ sỹ giỏi nhất trèo đường vòng qua đường mòn mà chàng vẫn còn nhớ từ thời thơ ấu, để họ có thể xuất hiện ngay phía sau quân Tiền Nhân và tấn công họ từ phía trên.

Những gì còn lại là sự huyên náo. Bị tấn công cả phía trước mặt lẫn bên nách, lực lượng cuối cùng của Tiền Nhân xứ Vale bị đánh tan nát. Ba mươi lãnh chúa đã chiến đấu cùng với Robar Royce hôm đó. Không một ai sống sót. Và dù cho những ca sĩ kể lại rằng Đức Vua Tối Cao đã hạ gục vô số kẻ thù, cuối cùng thì chàng cũng bị giết. Một số người nói rằng Ser Artys đã giết chàng, trong khi một số khác thì nói rằng là Lãnh chúa Ruthermont, hoặc là Luceon Templeton, Hiệp sỹ của Hội Chín Vì Sao. Gia tộc Corbray vùng Heart’s Home thì luôn khẳng định rằng chính Ser Jaime Corbray là người chém nhát chí mạng, và bằng chứng mà họ đưa ra là thanh Quý Cô Forlorn, được trao cho gia tộc Corbray sau trận chiến.

Rất nhiều câu chuyện về Trận Chiến Ngôi Sao Bảy Cánh được kể lại bởi các ca sĩ và thầy tu. Đều là những câu chuyện rất cảm động, chắc chắn rồi, nhưng các học giả vẫn đặt ra câu hỏi liệu bao nhiêu câu chuyện là sự thật? Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được. Chỉ có điều chắc chắn rằng Vua Robar II của gia tộc Royce đã đối đầu với Ser Artys Arryn trong một trận chiến lớn dưới chân rặng núi Giant’s Lance, nơi đây nhà vua chết và Ser Artys Arryn đã giáng cho Tiền Nhân một đòn mạnh tới mức họ không bao giờ còn có thể gượng dậy được nữa.

Không ít hơn mười bốn gia tộc cổ xưa và cao quý nhất của vùng Vale đã tuyệt tự vào ngày đó. Những dòng họ vẫn còn người nối dõi – họ Redfort, Hunter, Coldwater, Belmore và Royce – không còn cách nào khác giao nộp hàng loạt đất đai và vàng cho những kẻ chinh phục và quỳ gối thề trung thành với Artys Arryn, Đệ Nhất, vị vua mới phong của cùng núi và xứ Vale.

Theo thời gian, một vài trong số những gia tộc lụn bại này cũng đã dành lại được niềm kiêu hãnh, sự giàu có và quyền lực mà họ đã đánh mất trong trận chiến ngày ấy, nhưng cũng phải mất đến nhiều thế kỷ. Về phần những người thắng cuộc, gia tộc Arryn làm vua vùng Vale cho tới khi Aegon Nhà Chinh Phục và các chị em của ông tới, và sau đó phụng sự với tư cách Lãnh chúa của Eyrie, Người Bảo Hộ xứ Vale, và Hộ Thần Phương Đông. Và kể từ ngày đó tới nay, bản thân vùng Vale cũng được biết đến với cái tên: vùng Vale của gia tộc Arryn.

Số phận của những kẻ bại trận thì tàn nhẫn hơn nhiều. Theo lời của những người thắng trận lan truyền đi sang phía bên kia biển hẹp, ngày càng nhiều những chiếc thuyền ra khơi từ Andalos, và ngày càng nhiều người Andalos tràn vào vùng Vale và các vùng núi lân cận. Tất cả đều cần đất đai để sinh sống, và đất đai là thứ mà các lãnh chúa Andalos luôn sẵn sàng trao cho họ. Bất cứ nơi đâu mà Tiền Nhân dám cả gan kháng cự, họ lập tức bị chà đạp, bị chèn ép hoặc đuổi đi. Những lãnh chúa của họ, đã bị đánh bại, chẳng còn quyền lực để có thể bảo vệ họ.

Một số Tiền Nhân đã tồn tại được bằng cách pha trộn dòng máu của mình với người Andalos, nhưng rất nhiều người khác đã tháo chạy về phía Tây tới những thung lũng và những lối mòn bằng đá của Núi Mặt Trăng. Nơi đây, những hậu duệ của một dân tộc từng một thời rất đáng tự hào vẫn còn cư ngụ tới tận ngày nay, sống một cuộc sống ngắn ngủi, đói khổ, tàn bạo, giữa những lũ sơn tặc và những kẻ ngoài vòng luật pháp, luôn săn lùng những kẻ ngu ngốc dám tới gần những ngọn núi của chúng mà không có một đoàn bảo hộ đủ mạnh mẽ. Chỉ sung sướng hơn dân tự do sống phía bên kia Bức Tường một chút, những bộ lạc miền núi này cũng bị những dân cư thành thị gọi là man tộc luôn.

Dù cho xứ Vale được che chở bởi những rặng núi, điều này cũng không tránh khỏi những cuộc tấn công từ bên ngoài. Con đường lớn từ riverland qua vùng Núi Mặt Trăng đã nhuộm máu rất nhiều lần, dốc và bằng đá, nơi đây là con đường khả thi nhất cho một đội quân tiến vào vùng Vale. Điểm cuối phía Đông của nó được trấn giữ bởi Cổng Máu, một thời từng là một vách đá lởm chởm, những bức tường đá không được ai chăm sóc kể từ thời Tiền Nhân thích làm những pháo đài hình tròn. Nhưng vào triều đại của Vua Osric V Arryn, pháo đài này được xây mới hoàn toàn. Qua nhiều thế kỷ, có tới một tá đạo quân xâm lược đã tan nát tại nơi đây khi cố gắng vượt qua Cổng Máu.

Bờ biển xứ Vale – toàn đá và đầy những bãi cạn, bãi đá ngầm nguy hiểm – rất khó để đổ bộ, bổ sung thêm một vị trí phòng thủ tự nhiên tuyệt vời, nhưng những vị vua Arryn, ý thức rất rõ rằng tổ tiên của mình đã tới Westeros từ phía bên kia biển, chưa từng sao nhãng việc phòng thủ bờ biển này. Những tòa thành và pháo đài lớn canh giữ phần lớn những vùng bờ biển trống trải, và thậm chí vùng Finger đầy đá và nước chảy xiết cũng được chốt chặn bằng những tháp canh, mỗi tòa tháp đều có đèn hiệu để báo động về những đoàn cướp tới từ biển.

Sau đây là tên của những bộ lạc miền núi đáng chú ý nhất của vùng Núi Mặt Trăng, được thống kê lại bởi Đại Học Sỹ Arnel trong cuốn sách Vùng Núi Và Xứ Vale:

Quạ Đá (Stone Crows)

Sữa Rắn (Milk Snake)

Những Đứa Con Sương Mù (Sons of the Mist)

Huyng Đệ Mặt Trăng (Moon Brothers)

Hắc Nhĩ (Black Ears)

Những Đứa Con Của Cây (Sons of The Tree)

Người Cháy (Burned Men)

Người Hú (Howlers)

Thợ Rèn Máu (Redsmiths)

Chó Say Xỉn (Fainted Dogs)

Cũng có những bộ lạc khác nhỏ hơn, thường được sinh ra khi một mối thù hận nào đó làm chia rẽ một bộ lạc, nhưng những bộ lạc nhỏ này thường chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn trước khi họ bị thổi bay bởi những cuộc chiến với các bộ lạc khác, hoặc bị dẹp tan bởi những hiệp sỹ của xứ Vale.

Hầu hết những cái tên của các bộ lạc này đều có một ý nghĩa nào đó, tuy vậy với chúng ta thì chúng có vẻ khá tối nghĩa. Bộ lạc Hắc Nhĩ cắt tai của những người mà họ đánh bại trong chiến trận như là một chiến tích. Trong bộ lạc Người Cháy, một người trẻ phải đưa một bộ phận của mình vào lửa để chứng tỏ lòng can đảm trước khi anh ta được công nhận là một người đàn ông. Việc rèn luyện này có lẽ đã bắt nguồn từ sau Vũ Điệu Bầy Rồng, một số học sĩ tin vậy, trong khi một nhánh của bộ lạc Chó Say Xỉn được cho rằng thờ phụng một phù thủy lửa bên trong dãy núi, cống nộp những đứa bé trai cho bà ta để nhận được những món quà và dùng ngọn lửa rồng mà bà ấy điều khiển để tăng sức mạnh cho bộ lạc mình.

Người Andalos từng là một chủng tộc thích chiến tranh, vì một trong số Thất Diện Thần mà họ thờ phụng cũng chính là Thần Chiến Binh. Dù được an toàn trong địa phận của mình, một số Vua xứ Vale đã hết lần này tới lần khác chinh phạt ra phía ngoài biên giới của mình. Trong mỗi cuộc chiến, họ đều hiểu được lợi thế của mình, rằng khi cuộc chiến trở nên bất lợi với họ, họ hoàn toàn có thể rút lui về sau những bức tường tự nhiên khổng lồ của những ngọn núi.

Những vị vua vùng Vale cũng chưa bao giờ sao nhãng bỏ bê hạm đội thuyền của mình. Tại Gulltown, họ sở hữu một bến cảng tự nhiên rất đẹp và vững chãi, và dưới sự cai trị của gia tộc Arryn, nơi đây trở thành một trong số những thành phố hạng nhất toàn Bảy Vương Quốc. Dù cho bản thân xứ Vale đã nổi tiếng là vô cùng phì nhiêu, nơi đây vẫn khá là nhỏ bé nếu so với lãnh địa của các vị vua khác (và thậm chí là so với một số lãnh chúa lớn), và vùng Núi Mặt Trăng thì ảm đạm, toàn sỏi đá và rất khắc nghiệt. Vì thế nên thông thương là tối quan trọng đối với những người cai trị vùng Vale, và sự thông thái của những vị vua Arryn đã luôn quan tâm bảo vệ việc này bằng cách xây dựng những hạm đội tàu chiến lớn.

Có vô số những hòn đảo nằm trên vùng biển phía Đông và phía Bắc nơi đây, một số thì chỉ là những tảng đá bám đầy cua và tổ chim biển, số khác thì khá lớn và thường có cả người sinh sống. Với hạm đội của mình, những vị vua Arryn đã có thể mở rộng phạm vi cai trị của mình ra tận các hòn đảo này. Pebble được chiếm bởi Vua Hugh Arryn (Vua Béo) sau một cuộc đụng độ ngắn, quần đảo Pap chiếm bởi cháu trai của ông ta, Vua Hugo Arryn (Vua Hy Vọng) sau một cuộc chiến khá dài. Đảo Phù Thủy, nơi cư ngụ của gia tộc Upcliff với thanh danh độc ác nổi tiếng, được sát nhập vào đế chế bằng hôn nhân, khi Vua Alester Arryn, Đệ Nhị, lấy Arwen Upcliff làm vợ.

Quần đảo cuối cùng được sát nhập vào xứ Vale là Ba Chị Em. Trong suốt hàng nghìn năm, những hòn đảo này nổi tiếng có những vị vua tàn ác, hải tặc, cướp đến từ vùng Bite, biển hẹp, hay thậm chí từ Biển Rùng Mình mà không bị trừng phạt, chúng trộm cắp và cướp phá thỏa thích rồi trở về quần đảo Ba Chị Em chở nặng vàng và nô lệ.

Những cuộc cướp phá của chúng cuối cùng dẫn tới việc Vua Mùa Đông phải phái hạm đội tàu chiến ra để chinh phục Ba Chị Em – vì ai nắm giữ Ba Chị em thì cũng nắm giữ luôn vùng Bite.

Cuộc Cưỡng Hiếp Ba Chị Em là tên của cuộc chinh phục của người phương Bắc. Cuốn Biên Niên Sử Vùng Longsister đã mô tả những điều cực kỳ kinh khủng về cuộc chinh phục này: những người Phương Bắc hoang dã giết trẻ em và cho vào nồi nấu, những binh lính moi ruột những người đàn ông còn đang sống để siết cổ họ, cuộc thảm sát ba nghìn binh lính chỉ trong một ngày tại Headman’s Mount, Những Chiếc Lều Hồng Của Beltharsar Bolton được làm từ da bị lột ra từ một trăm người dân vùng Ba Chị Em …

Việc những câu chuyện này có thể tin tưởng được tới đâu vẫn khó xác định, nhưng cần phải lưu ý rằng những điều khủng khiếp này, trong số những điều thường được miêu tả trong những ghi chép về cuộc chiến bởi những người từ vùng Vale, thường không được đề cập đến trong các sách sử của Phương Bắc. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận, rằng sự cai trị của người Phương Bắc lên người vùng Ba Chị Em nặng nề tới mức họ đã gửi những lãnh chúa còn sống sót tháo chạy về Eyrie cầu xin sự trợ giúp của Vua Vùng Núi Và Xứ Vale.

Điều này đến tai Vua Mathos Arryn, Đệ Nhị, rất sẵn lòng giúp đỡ, với điều kiện rằng người dân vùng Ba Chị Em chấp thuận trung thành với mình và những hậu duệ của ông từ đó về sau, và chấp thuận sự cai trị của Eyrie. Khi vợ của ông thắc mắc về việc liệu có thông thái không khi đưa xứ Vale dính vào Cuộc Chiến Xuyên Biển, Đức Vua đã trả lời bằng một câu rất nổi tiếng rằng, ông thà làm hàng xóm với một tên cướp biển còn hơn là với một con sói. Nhà vua dong thuyền ra khơi tới Ba Chị Em với một trăm chiến thuyền.

Ông không bao giờ trở về, nhưng những người con trai của ông tiếp tục cuộc chiến thay ông. Suốt một ngàn năm, Winterfell và Eyrie tranh chấp quyền cai trị quần đảo Ba Chị Em. Cuộc Chiến Không Lời, một số người ví von như vậy. Hết lần này tới lần khác cuộc chiến tưởng như đã đến hồi kết, để rồi lại bùng lên quyết liệt thêm một lần nữa ở thế hệ sau. Quần đảo này đổi chủ hơn một tá lần. Ba lần người Phương Bắc đặt chân lên vùng Finger. Gia tộc Arryn cử hạm đội thuyền ngược lên vùng White Knife và thiêu rụi Hang Sói, và gia tộc Stark trả đũa bằng cách tấn công Gulltown và thiêu rụi hàng trăm chiếc thuyền khi mà họ không thể vượt qua được tường thành.

Cuối cùng thì gia tộc Arryn là phe dành phần thắng, và Ba Chị Em là một phần của xứ Vale kể từ đó tới nay, ngoại trừ triều đại ngắn ngủi của Nữ Hoàng Marla Sunderland ở thời điểm ngay sau Cuộc Chinh Phục của Aegon, bà ta bị phế truất bởi hạm đội tàu của người Bravos mà người Phương Bắc đã thuê theo lệnh của Vua Aegon. Em trai bà thề trung thành với gia tộc Targaryen, còn nữ hoàng thì dành phần đời còn lại trong im lặng.

“Chiến thắng của Eyrie không hề khiến cho Winterfell buồn lòng,” Đại Học Sỹ Perestan đã kể lại trong cuốn Chiêm Nghiệm Lịch Sử. “Vì trong suốt mười thế kỷ đằng đẵng sói và đại bàng đã chiến đấu và đổ máu chỉ vì ba tảng đá, cho tới khi sói tỉnh ngộ và nhận ra nó chỉ là sỏi đá mà thôi, nó nhè ra và bỏ đi.”

2. Gia tộc Arryn

Gia tộc Arryn xuất phát từ một dòng dõi cổ xưa và thuần huyết nhất của giới quý tộc Andalos. Những vị vua Arryn đều có thể tìm ra huyết thống của họ trong chính giới quý tộc Andalos cổ xưa, và một số thậm chí còn lâu đời tới mức có thể nhận là hậu duệ của chính Hugor Vùng Đồi.

Gia tộc Arryn (trung tâm) và một vài chư hầu (tính từ đỉnh đồng hồ): Waynwood, Royce,
Corbray, Baelish, Belmore, Grafton, Hunter, Redfort, and Templeton

Tuy nhiên, trong tất cả những cuộc thảo luận về nguồn gốc của gia tộc Arryn, điều rất quan trọng là phải phân biệt được lịch sử và huyền thoại.

Có vô số những bằng chứng lịch sử về sự tồn tại của Ser Artys Arryn, Hiệp Sỹ Đại Bàng, vị vua Arryn đầu tiên cai trị vùng núi và xứ Vale. Chiến thắng của ông trước Vua Robar II tại Trận Chiến Ngôi Sao Bảy Cánh cũng đã được chứng thực rõ ràng, cho dù những chi tiết về trận đánh có vẻ như là đã được thêu dệt thêm khá nhiều trong những thế kỷ sau đó. Vua Artys chắc chắn là một con người có thực, và là một người phi thường.

Tuy nhiên, tại xứ Vale, những tình tiết lịch sử có thực này của ông ta lại hoàn toàn bị lẫn lộn với một nhân vật huyền thoại trùng tên, một Artys Arryn khác, sống cách thời đó nhiều ngàn năm trước vào Kỷ Anh Hùng, và được tưởng nhớ trong những ca khúc và câu chuyện với cái tên Hiệp Sỹ Có Cánh.

Ser Artys Arryn đầu tiên được cho rằng thường cưỡi trên lưng một con đại bàng khổng lồ (có thể là một ký ức nhầm lẫn với một kỵ sỹ rồng nhìn từ phía xa, Đại Học Sĩ Perestan nhận xét). Có cả một đạo quân đại bàng chiến đấu theo lệnh của ông ta. Để chiếm xứ Vale, ông bay lên trên đỉnh nũi Giant’s Lance và giết Vua Đại Bàng. Ông kết bạn với cả người khổng lồ và pháp sư, và cưới một người vợ thuộc tộc những đứa trẻ rừng rậm, dù vậy bà ta chết trong khi sinh đứa con của ông.

Có tới một trăm câu chuyện khác kể về ông ta, hầu hết đều là những chuyện hoang đường. Chẳng thể tin được rằng một người như thế lại có thể có thực, giống như Lann Thông Thái vùng westerland, hay Brandon Kiến Thiết của phương Bắc, Hiệp Sỹ Có Cánh chỉ là một huyền thoại, không hề bằng xương bằng thịt. Nếu như có một người anh hùng từng tồn tại ở vùng núi và xứ Vale, rất xa xưa từ tận Kỷ Bình Minh, thì tên của ông ta cũng chắc chắn không phải là Artys Arryn, vì gia tộc Arryn xuất phát từ dòng dõi Andalos thuần huyết, mà vị Hiệp Sỹ Có Cánh này thì lại sống và chiến đấu rất nhiều trận chiến từ thời nhiều ngàn năm trước khi những người Andal đầu tiên đặt chân tới Westeros.

Chính là các ca sĩ đã nhập hai hình tượng này làm một, bổ sung luôn những chiến công của Hiệp Sỹ Có Cánh huyền thoại vào cho Hiệp Sỹ Đại Bàng, có lẽ là để xu nịnh những người thừa kế sau này của Artys Arryn bằng cách đặt luôn người anh hùng này của Tiền Nhân vào một trong những tổ tiên của gia tộc Arryn.

Câu chuyện thực sự về gia tộc Arryn chẳng có người khổng lồ hay đại bàng khổng lồ nào hết, thế nhưng kể từ ngày Ser Artys Arryn khoác lên mình danh hiệu Hiệp Sỹ Đại Bàng cho tới nay, chúng đã mặc nhiên có một suất trong lịch sử của Bảy Vương Quốc. Kể từ thời Cuộc Chinh Phục của Aegon, những lãnh chúa của Eyrie đã phụng sự Ngai Sắt với tư cách Hộ Thần Phương Đông, bảo vệ bờ biển Westeros chống lại những kẻ thù tới từ phía bên kia biển. Trước đó, lịch sử đã kể lại về vô số những trận chiến với những bộ lạc man rợ vùng núi, một ngàn năm xung đột với Phương Bắc tại Quần Đảo Ba Chị Em, những trận hải chiến đẫm máu của hạm đội Arryn mang về vô số nô lệ từ Volantis, những trận cướp phá của dân Đảo Sắt, và lũ cướp biển tới từ Stepstone và Quần Đảo Rắn. Gia tộc Stark có thể cổ xưa hơn, nhưng những huyền thoại của họ có từ trước khi Tiền Nhân có chữ viết, trong khi gia tộc Arryn được dạy dỗ bởi những Thầy Tu và Bà Sơ, và những thành tựu, chiến công của họ đều luôn được ghi chép lại và lưu danh trong sử sách bởi những nỗ lực tận tâm của Hội Đức Tin.

Với việc thống nhất đế quốc và việc phong chức cho đứa bé trai Ronnel Arryn (Vua Bay) là Lãnh chúa của Eyrie đầu tiên, có những cơ hội mới đã được mở ra cho gia tộc này.  Không có gì là ngạc nhiên khi Nữ hoàng Rhaenys Targaryen sắp xếp một cuộc hôn nhân giữa Ronnel trẻ tuổi với con gái của Torrhen Stark, vì đây cũng chỉ là một trong số rất nhiều những cuộc hôn nhân mà bà từng dàn xếp để gìn giữ hòa bình. Đáng buồn thay, Lãnh chúa Ronnel sau này đã chết một cái chết khủng khiếp bởi tay của người em trai mình là Jonos Sát Tộc, tuy nhiên dòng dõi Arryn vẫn tiếp tục truyền đến người nối dõi và có ảnh hưởng sâu sắc đến một loạt những sự kiện lớn tại Bảy Vương Quốc.

Gia tộc Arryn có thể đã gia tăng sự ưu đãi hiếm có dành cho mình lên gấp đôi nhờ vào những lễ thành hôn với những dòng dõi của rồng. Rodrik Arryn, Lãnh chúa của Eyrie, đã được vinh danh bởi Vua Jaehaerys I Targaryen cùng với vợ của ông, Nữ Hoàng Alysanne Tốt Bụng, bằng việc kết hôn với con gái họ, Công Chúa Daella, và một đứa bé ra đời từ cặp đôi này, Quý Cô Aemma Arryn, tiếp tục trở thành người vợ cả của Vua Viserys I Targaryen, và đứa con đầu lòng của bà, Công Chúa Rhaenyra, chính là người đã tranh chấp Ngai Sắt với em trai mình Aegon II. Trong mối xung đột này, Jeyne Arryn, Quý Cô của Eyrie và Trinh Nữ xứ Vale, đã chứng minh tình bạn trung thành với Rhaenyra Targaryen và những người con trai của bà, đã phụng sự tận tâm với tư cách một thành viên hội đồng của Vua Aegon III. Kể từ ngày đó, mọi Targaryen ngồi lên ngai vàng đều có chút máu mủ với gia tộc Arryn.

Gia tộc Arryn cũng góp phần trong những cuộc chiến giữa các vị vua Targaryen, và trong các cuộc Biến Loạn Blackfyre, kiên định đứng về phía Ngai Sắt chống lại những Kẻ Mạo Nhận Blackfyre. Trong suốt cuộc Biến Loạn Blackfyre Đầu Tiên, Lãnh chúa Donnel Arryn đã rất dũng cảm chỉ huy đội tiên phong của lực lượng hoàng gia, mặc dù đội quân của ông đã bị đánh tan bởi Daemon Blackfyre, và cận kề cái chết cho tới khi Ser Gwayne Corbray của đội Vệ Vương xuất hiện với quân cứu viện.

Lãnh chúa Arryn đã sống sót để tiếp tục chiến đấu vào một ngày khác, và nhiều năm sau ông đã cô lập xứ Vale khỏi mọi thông thương cả trên đất liền và trên biển khi Đại Dịch Mùa Xuân quét qua Bảy Vương Quốc, do đó, chỉ riêng xứ Vale và Dorne là không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh khủng khiếp này.

Trong vài năm tiếp theo, tầm quan trọng của Lãnh chúa Jon Arryn trong cuộc Biến Loạn Robert là không phải bàn cãi. Thật vậy, chính việc Lãnh chúa Jon từ chối giao nộp đầu của những người được ông giám hộ: Eddard Stark và Robert Baratheon, đã khởi đầu cho cuộc nổi dậy. Nếu như ngày đó ông làm theo lệnh, thì Vua Điên có thể vẫn còn đang ngồi trên Ngai Sắt. Lãnh chúa Arryn đã chiến đấu vô cùng dũng cảm bên cạnh Robert trên sông Trident. Sau cuộc chiến, nhà vua mới đã chứng tỏ sự thông thái khi ông bổ nhiệm Lãnh chúa Jon Arryn làm Cánh Tay đầu tiên của mình. Sự khôn ngoan của ông đã giúp Vua Robert cai trị Bảy Vương Quốc một cách thông thái và công bằng kể từ ngày đó. Đây thực sự là một điều đáng mừng cho đế quốc khi một con người vĩ đại làm Cánh Tay cho một vị vua vĩ đại, vì hòa bình và thịnh vượng chắc chắn sẽ tới.

Tại Đại Hội Đồng năm 101 AC, gia tộc Arryn đóng khá ít vai trò, vì Quý Cô Jeyne đang trong thời kỳ sinh nở. Thay mặt nàng tới Hội Đồng là Lãnh Chúa Bảo Hộ của xứ Vale Yorbert Royce vùng Runestone. Một trong số những gia tộc hùng mạnh nhất vùng Vale, gia tộc Royce vẫn vô cùng tự hào về dòng dõi của họ từ thời Tiền Nhân và vị vua cuối cùng của họ, Vua Robar II. Thậm chí cho tới ngày nay, những Lãnh chúa vùng Runestone ra trận vẫn mặc những bộ áo giáp bằng đồng của tổ tiên mình, khảm lên những cổ ngữ được cho rằng sẽ bảo vệ người mặc giáp khỏi những vết thương. Than ôi, con số những người gia tộc Royce chết trong khi đang mặc những chiếc áo giáp khắc cổ ngữ này là vô cùng đáng lo ngại. Thêm nữa, Học Sỹ Denestan trong cuốn sách Những Câu Hỏi đã mô tả rằng thực chất những chiếc áo giáp này ít cổ xưa hơn nhiều so với vẻ ngoài của chúng.

3. Thành Eyrie

Rất nhiều người nói rằng Thành Eyrie của Gia tộc Arryn là tòa thành đẹp nhất toàn Bảy Vương Quốc, và quả thực rất khó phủ nhận sự thật này (dù cho gia tộc Tyrell chắc chắn là sẽ phản đối). Bảy tòa tháp trắng nhỏ bao bọc xung quanh Eyrie nằm lưng chừng trên ngọn núi Giant’s Lance, và không có tòa thành nào trên toàn Westeros sử dụng đá hoa cương nhiều như Eyrie, dùng để xây cả những bức tường lẫn lát nền.

Và gia tộc Arryn cũng như người xứ Vale cũng đều sẽ nói với bạn rằng Eyrie là bất khả xâm phạm, bởi vị trí cao tít trên đỉnh núi khiến cho nơi đây hầu như không thể công phá.

Được coi là nơi cư ngụ hoàng gia nhỏ nhất ở Westeros, Eyrie không phải là nơi cư ngụ đầu tiên của gia tộc Arryn. Vinh dự này là thuộc về Cổng Mặt Trăng, một tòa thành lớn hơn rất nhiều tọa lạc tại chân núi Giant’s Lance, ngay tại nơi mà Ser Artys Arryn cùng những người Andalos đã đóng quân vào đêm ngay trước Trận Chiến Ngôi Sao Bảy Cánh. Vào những năm đầu của đế chế, khi mà ngôi vua của mình vẫn còn chưa được củng cố vững chắc, Vua Artys muốn một nơi cư ngụ đủ kiên cố để trụ vững trước những đợt công thành nếu như Tiền Nhân nổi dậy chống lại mình. Cổng Mặt Trăng đã phụng sự tốt trong khía cạnh này, nhưng nơi đây giống một pháo đài hơn là một cung điện, và những người ngắm nhìn nó ngay lần đầu tiên đều mô tả lại rằng đây là một tòa thành cho một vị lãnh chúa nhỏ chứ chẳng xứng dành cho một vị vua.

Điều này cũng không làm bận lòng Vua Artys lắm, vì ông rất hiếm khi ở đây. Vị vua Arryn đầu tiên dành phần lớn thời gian trên yên ngựa, du hành từ đầu này của lãnh địa tới đầu kia trong những kế hoạch hoàng gia không có hồi kết. “Ngai vàng của ta là cái yên ngựa,” Ông từng nói, “và lâu đài của ta là chiếc lều dã chiến.”

Thành Eyrie

Vua Artys được nối ngôi bởi hai người con trai lớn, lần lượt trị vì với tư cách Vua Vùng Núi và Xứ Vale thứ hai và thứ ba. Không giống như cha mình, họ đều dành thời gian đáng kể của triều đại mình tại Cổng Mặt Trăng và có vẻ hài lòng với nơi đây, dù cho mỗi người đều đã có những sự bổ sung khác nhau cho tòa thành này. Chính vị vua Arryn thứ tư, cháu trai của Artys Đệ Nhất, đã bắt đầu đặt nền móng cho việc xây dựng Eyrie. Roland Arryn được nuôi dưỡng bởi một vị vua Andalos ở vùng riverland từ khi còn là một cậu bé và đã thường xuyên đi du ngoạn rất nhiều nơi từ khi trưởng thành, từng ghé thăm Oldtown và Lannisport trước khi trở về xứ Vale khi cha mình chết để kế thừa chiếc Vương Miện Đại Bàng. Đã từng được chiêm ngưỡng vẻ kỳ vĩ của Hightower và Casterly Rock, và những thành trì vĩ đại của Tiền Nhân vẫn còn tồn tại trên những mảnh đất vùng Trident, ông cảm thấy Cổng Mặt Trăng quá nhỏ bé và xấu xí nếu so với những nơi đó. Đầu tiên Vua Roland muốn phá bỏ Cổng và xây dựng một nơi cư ngụ mới ngay tại vị trí cũ, nhưng vào mùa đông năm đó, hàng ngàn dân man tộc tràn xuống từ vùng núi tìm kiếm thức ăn và nơi trú ẩn, vì những vùng cao đã bị chôn vùi bởi tuyết rơi quá dày. Sức phá hoại của chúng khiến cho vị vua tỉnh ngộ ra nơi trị vì của ông mong manh đến thế nào vào thời điểm đó.

Huyền thoại kể lại rằng chính người vợ tương lai của ông, Teora con gái của Lãnh chúa Hunter, là người đã nhắc nhở ông về cái cách ông của mình đã đánh bại Robar Royce, bằng cách tấn công từ điểm cao. Bị ảnh hưởng nhiều bởi những lời của nàng, và bởi chính bản thân nàng nữa, Lãnh chúa Roland đã chiếm lấy mảnh đất cao nhất và tuyên bố việc xây dựng một tòa thành mà sau này được đặt tên là Eyrie.

Tuy nhiên ông đã không sống được đến ngày chứng kiến nó hoàn thành. Nhiệm vụ Đức Vua giao cho những thợ xây là vô cùng khó khăn, vì những con dốc ở chân núi Giant’s Lance rất trơn trượt và vô cùng cao, và lên cao hơn thì những vách đá trở nên thẳng đứng và đầy băng giá. Phải mất đến hơn một thập kỷ để dọn dẹp và mở một con đường zíc zắc men lên theo triền núi. Phía trên những rặng cây, một đội quân nho nhỏ những thợ đẽo đá làm việc với búa và đục, đẽo những bậc thang trên những vách đá để làm đường lên khi những con dốc trở nên ngày càng thẳng đứng. Trong khi đó, Roland gửi những thợ xây của mình đi khắp Bảy Vương Quốc để tìm đá, vì Đức Vua không hài lòng với loại đá hoa cương đang có tại xứ Vale.

Rồi một mùa đông tiếp theo tới và thêm một cuộc tấn công khác vào xứ Vale bởi những bộ lạc vùng Núi Mặt Trăng. Bị tấn công bất ngờ bởi một nhóm quân thuộc bộ lạc Chó Say Xỉn, Vua Roland I Arryn bị lôi ngã khỏi ngựa và bị giết hại, sọ của ông bị đập vỡ bởi một cây chùy đá khi đang cố rút thanh trường kiếm của mình ra khỏi vỏ. Ông đã trị vì được hai mươi sáu năm, đủ lâu để chứng kiến viên đá đầu tiên được đặt cho tòa lâu đài mà ông đã tuyên bố.

Công việc xây dựng được tiếp tục trong triều đại của con trai ông, nhưng tiến độ vô cùng chậm chạp, vì đá đều phải vận chuyển về bằng thuyền từ tận đảo Tarth, rồi được vận chuyển từ dưới chân núi Giant’s Lance bằng những con la. Hàng tá những con la đã chết khi đang vận chuyển lên núi, cùng với bốn nhân công và một thợ điêu khắc đá bậc thầy. Dần dần những bức tường của tòa thành cũng mọc lên, từng chút từng chút một… cho tới khi Vương Miện Đại Bàng được truyền đến cho người chắt trai của nhà vua, một người từng mơ mộng về một tòa thành trên bầu trời. Chiến tranh và phụ nữ mới là đam mê của Vua Roland Đệ Nhị, chứ không phải là xây dựng, chi phí để xây dựng Eyrie trở nên không thể chấp nhận được, và nhà vua mới cần vàng để chi trả cho những chiến dịch của mình tại vùng riverland mà ông đang toan tính. Ngay khi cha của ông được chôn cất, Vua Roland II ra lệnh dừng mọi hoạt động xây dựng tòa thành.

Vì điều này, Eyrie bị bỏ hoang trên bầu trời trong suốt gần bốn năm. Những con đại bàng làm tổ trên những tòa tháp đang xây dựng dang dở, trong khi Vua Roland Đệ Nhị chiến đấu với những Tiền Nhân tại vùng riverland tìm kiếm vinh quang và vàng bạc.

Tuy nhiên. những cuộc chinh phục hóa ra khó thực hiện hơn ông tưởng. Sau vài chiến thắng nhỏ và vô nghĩa trước những vị vua nhỏ lẻ, ông phải đối mặt với Tristifer Đệ Tứ, Cây Búa Công Lý. Vị vua vĩ đại cuối cùng còn sót lại của Tiền Nhân đã giáng cho Roland Arryn một thất bại tan nát, và thêm một thất bại nữa còn tồi tệ hơn vào năm sau đó. Suýt nữa thì mất mạng, Đức Vua rút lui về lâu đài của một trong số những đồng minh cũ, một lãnh chúa người Andalos, chỉ để bị phản bội và bị xích lại giải về cho Tristifer. Sau bốn năm kể từ ngày xuất quân từ Vale đầy huy hoàng, Vua Roland II bị chặt đầu ở Oldstone bởi chính tay Cây Búa Công Lý.

Rất ít lời khóc thương dành cho cái chết của ông từ xứ Vale, vì thói hiếu chiến và cuồng vinh quang của ông đã khiến ông chẳng có bạn bè nào cả. Khi người em trai Robin Arryn kế ngôi ông, công việc xây dựng Eyrie được tái hoạt động. Thế nhưng phải mất bốn mươi ba năm và bốn đời vua sau đó tòa thành mới được hoàn thành và bắt đầu có người sinh sống. Học sĩ Quince, người đầu tiên trong hội được phụng sự ở đây, đã mô tả Eyrie là “thành tựu tuyệt vời nhất từng được gây dựng bởi bàn tay con người, một cung điện xứng đáng với cả những vị thần. Chắc chắn ngay cả Đức Chúa Trời cũng chưa từng được cư ngụ ở một nơi như thế này”

Kể từ ngày đó tới nay, thành Eyrie vẫn là nơi cư ngụ của gia tộc Arryn vào mùa xuân, mùa hạ và mùa thu. Vào mùa đông, băng giá, tuyết và những cơn gió gào thét khiến cho việc cư ngụ nơi đây trở nên bất khả thi, và bản thân tòa thành cũng không thể sinh sống được, nhưng vào mùa hạ, tòa thành được tắm trong những cơn gió mát mẻ và trong lành trên đỉnh núi, hàng đoàn người dân cư ngụ tới từ những thung lũng nóng nực phía dưới. Tòa thành này là độc nhất vô nhị trên toàn thế giới, hoặc chí ít là không có tòa thành nào được ghi chép lại là xứng tầm với nơi này.

Cần phải đề cập tới bức tượng đáng chú ý tọa lạc trong khu rừng thiêng ở Eyrie, một bức tượng tuyệt đẹp của Alyssa Arryn quá cố. Truyền thuyết kể rằng sáu ngàn năm trước, Alyssa đã chứng kiến chồng mình, anh em trai, và những đứa con trai bị tàn sát, và rằng nàng không hề rơi một giọt nước mắt. Vì thế, những vị thần linh trừng phạt nàng bằng cách không cho linh hồn nàng được yên nghỉ cho tới khi nào những giọt nước mắt của nàng chảy được xuống thung lũng Vale phía dưới kia. Dòng thác lớn đổ xuống từ trên đỉnh núi Giant’s Lance được gọi là Nước Mắt Alyssa, vì những dòng nước đổ xuống từ vị trí cao tới mức chúng tan thành hơi nước từ lâu trước khi kịp chạm đến mặt đất.

Câu chuyện này có thực đến đâu? Alyssa Arryn là có thật, điều này chúng ta có thể chắc chắn, nhưng có vẻ như không phải nàng sống cách đây sáu ngàn năm. Cuốn Sự Thật Lịch Sử cho rằng chỉ là bốn ngàn năm, trong khi Denestan chỉ nêu con số bằng một nửa trong cuốn Những Câu Hỏi.

 Thành Eyrie chưa từng bị chiếm bởi vũ lực. Để tấn công vào đây, một kẻ xâm lược trước hết cần chiếm được Cổng Mặt Trăng ở dưới chân núi, một tòa thành vô cùng vững chãi. Nếu làm xong được điều này, vẫn còn một chặng đường dài phía trước, và trong khi chúng trèo lên, những kẻ xâm lược phải vượt qua không ít hơn ba tòa thành dọc đường đi phòng thủ con đường đi lên đỉnh núi: Thạch Thành (Stone), Tuyết Thành (Snow) và Thiên Thành (Sky).

Hệ thống phòng thủ liên tiếp này đã khiến cho chỉ riêng việc tiếp cận Eyrie cũng đã vô cùng khó khăn, nhưng kể cả khi những kẻ tấn công lần lượt vượt qua được cả ba tòa thành này, chúng sẽ đối mặt với những vách đá dựng đứng, với chính tòa thành Eyrie đậu ở nơi cao sáu trăm feet phía trên đầu, chỉ có thể lên bằng thang hoặc dây thừng.

Một điều thú vị nho nhỏ là có rất ít kẻ từng nỗ lực tấn công Eyrie. Kể từ khi nơi đây được hình thành, những vị vua Arryn luôn biết rằng họ có một nơi trú chân bất khả xâm phạm để rút lui về trong những tình huống khó khăn. Những học sỹ từng phụng sự gia tộc Arry, tất cả đều là những người tìm hiểu về nghệ thuật chiến tranh, đều nhất trí tuyệt đối với nhau rằng tòa thành này không thể bị chiếm.

 ….Có lẽ ngoại trừ với những con rồng, vì Visenya Targaryen đã từng chứng tỏ điều này khi bà đáp xuống khoảng sân trong của Eyris cùng với con rồng của mình, Vhargar, và thuyết phục mẹ của vị vua Arryn cuối cùng quy thuận gia tộc Targaryen, giao nộp chiếc Vương Miện Đại Bàng.

Cổng Máu

Tuy nhiên, gần ba trăm năm đã đến và đi kể từ ngày đó, và con rồng cuối cùng cũng đã chết từ lâu tại King’s Landing, nên những vị Lãnh chúa tương lai của Eyrie có thể một lần nữa ngủ ngon giấc yên tâm rằng nơi cư ngụ tuyệt đẹp của họ sẽ mãi mãi bất khả chiến bại và bất khả xâm phạm.

Nguồn BapStory
Bình luận
Loading...