Biên niên sử Dota 2

0 5

Là tựa game ARTS sở hữu số lượng hero đồ sộ và một bản đồ có độ chi tiết cao, một lẽ chắc chắn rằng Valve cũng sẽ thiết kế một truyền thuyết dành riêng cho Dota 2. Những câu chuyện mà người chơi biết từ DotA 1 trước đó sẽ bị loại bỏ và không còn liên quan gì đến với thế giới của Dota 2 hiện tại nữa.

Không hoành tráng như những cuốn tiểu thuyết của Blizzard về World of Warcraft, không pha trộn yếu tố hư cấu và mùi mẫn những chuyện tình như Liên Minh Huyền Thoại, nhưng Dota 2 lại sở hữu một cuốn biên niên sử đồ sộ và cực kì chi tiết.

Chương I: Cội nguồn thế giới

1. Về Dota 2 Archronicus

Những kẻ thông hiểu vạn vật, đã để lại mệnh lệnh của mình trong những tờ giấy thánh tích. Được sao chép qua từng thế hệ của những nhà thần học, biên dịch bởi những học giả và được giải mã bởi những pháp sư, những mảnh biên niên được tìm thấy trong tài liệu này liên quan đến vùng đất đã từng xảy ra đấu tranh, cùng với luật lệ và những kẻ giám hộ, những kiến thức cao siêu và những phép thuật cổ xưa.

Các văn bản được truyền lại qua nhiều vùng văn hóa và đi qua từng thời đại, bảo quản những kiến thức sót lại của các học giả đã chết từ lâu, và sự thật đằng sau nó quyền năng hơn bất cứ thanh gươm hay bùa chú nào. Chỉ có duy nhất đôi mắt của người được chọn mới có thể phá bỏ phong ấn và đọc cuốn sách, chỉ duy nhất kẻ đó mới có thể tiết lộ sự thật. Và chỉ có máu của những anh hùng đã chết mới viết tiếp được những trang còn để trống — Archronicus.

Archronicus là những mẩu truyện ngắn được Valve xây dựng trong game. Nó cho biết khởi thủy của vạn vật trong thế giới Dota 2 và truyền thuyết về những vị anh hùng.

Được đưa vào game vào ngày 3 tháng 7 năm 2013 trong bản patch của Valve cùng với những tutorial dành cho những người mới chơi, nội dung của Archronicus được lồng vào những nhiệm vụ trong game. Cuốn sách này không ảnh hưởng đến gameplay của trò chơi.

Câu chuyện đầu tiên của Archronicus nằm ở phần nhiệm vụ của Dragon Knight. Nó kể về những Ancient, và họ đã đến thế giới Dota như thế nào qua những mảnh Trăng Điên – Mad Moon.

Câu chuyện này được viết bởi đội ngũ Dota 2 Developer, khoảng một năm cho đến nửa năm trước khi trò chơi được phát hành.

Hiện tại, sau bản cập nhật Dota 2 Reborn, cuốn Archronicus không còn được Valve sử dụng và bạn cũng không thể tìm thấy nó trong game nữa. Có thể nói một cách chính xác là nó đã bị thất truyền và chỉ còn trên những nguồn lưu trữ từ internet.

2. Vụ nổ Mad Moon

Cách đây rất lâu rồi, khi thế giới lúc ấy chỉ là một khối cầu lạnh lẽo, nó nhận được luồng sáng từ một khối cầu khác phát ra những ánh sáng kì bí. Quả cầu phát sáng ấy chính là Trăng Điên trong truyền thuyết – Mad Moon.

Tuy nhiên ánh sáng của nó chứa đầy sự hận thù và đấu tranh – dường như đó chính là dấu hiệu của sự xung đột tiềm ẩn bên trong nó. Ánh sáng tỏa ra từ Mad Moon chói lọi và rực rỡ như ánh sáng của Mặt Trời.

Nhưng Mad Moon không chỉ đơn giản như vậy. Nó chính xác là một nhà tù tồn tại hàng triệu năm, giam giữ hai nguồn năng lượng của trí tuệ cổ xưa.

Những Primordial đã trừng phạt hai thế lực này khi liên tục chứng kiến những xung đột của họ, giam họ vào khối cầu mang tên Mad Moon. Những sức mạnh ấy bị khóa thành một dạng năng lượng vô cực và bất tử, tồn tại sâu trong lòng Mad Moon.

Qua hàng ngàn năm, ánh sáng của Mad Moon đã chứng kiến bao nền văn minh phát triển rực rỡ rồi lại lụi tàn, những sinh vật thông minh ngắm nhìn nó với ánh mắt tò mò và dành cho nó sự tôn kính.

Tuy nhiên, cư dân của Mad Moon trong quá trình khai thác những nguồn năng lượng bên trong nó đã vô tình làm suy yếu chìa khóa của phong ấn cổ, tạo ra những vết nứt nhỏ.

Những vết nứt ấy từ từ lan rộng, cho đến khi toàn bộ khối cầu bị chia ra bởi hàng ngàn kẽ hở tỏa ra những ánh sáng nóng bỏng và chói lọi.

Điều gì đến cũng phải đến, vào đêm định mệnh đó, mặt trăng đã vỡ ra thành từng mảnh nhỏ, mọi thứ bị bóp vụn từ trong lõi.

Mad Moon đã nổ tung. Hầu hết những mảnh vỡ bị ném ra ngoài không gian hoặc bị hút vào tầng khí quyển. Một vài mảnh thì rơi xuống mặt đất – những hòn đá nóng chảy và những mảnh thủy tinh nát vụn. Vụ nổ Mad Moon biến thế giới thành địa ngục tăm tối.

3. Khởi nguồn của thế giới, cuộc chiến giữa Radiant và Dire

Qua nhiều năm, những mảnh vỡ lơ lửng ngoài vũ trụ dần được tập trung lại tại nơi đã tạo ra nó. Năng lượng bên trong Mad Moon vẫn chưa chết hẳn, lực hấp dẫn của nó tạo ra một hành tinh mới.

Những kẻ sống sót từ địa ngục cổ xưa bắt đầu cuộc sống mới, phát triển hưng thịnh và hình thành những cộng đồng lớn mạnh. Vụ nổ Mad Moon giờ đây như một giấc mơ mờ nhạt đã trôi qua trong tiềm thức của họ và được truyền lại như một câu chuyện thần thoại.

Những mảnh vỡ nguyên thủy còn tồn tại sau khi trải qua vụ nổ Mad Moon đã hấp thụ hai nguồn sức mạnh đối địch bên trong nó và tạo ra hai dạng năng lượng đối lập, người ta gọi chúng là Radiant và Dire.

Những cư dân định cư xung quanh hai vùng năng lượng này cảm thấy cuộc sống của họ phụ thuộc vào hai nguồn sức mạnh ấy. Họ xây dựng những đền thờ xung quanh hai nguồn năng lượng ấy, tạo thành những Ancient và tôn kính như những thực thể thần thánh rơi xuống mặt đất.

Những Ancient, cả Radiant và Dire, cung cấp cho những người dân quanh đó rất nhiều lợi ích: năng lượng để hoạt động, mana, sự bảo vệ, và cả sự hồi sinh. Những cảnh vật do chịu sự tác động của hai nguồn năng lượng khác nhau nên cảnh quan cũng khác nhau.

Xung quanh Radiant là một vùng đất trù phú đầy màu sắc và là thiên đường của sự sống. Xung quanh Dire là những ánh sáng u tối và ẩn chứa những lời nguyền, bên trong cánh rừng thì đầy khí độc chết người.

Khi cuộc sống cư dân xung quanh hai Ancient phát triển, họ đã tiến hành mở rộng lãnh thổ của mình. Và khi cả hai nhận ra sự tồn tại của thế lực kia, chiến tranh đã xảy ra. Cả hai vùng đất đều sở hữu cho mình những vị anh hùng (hero) mà chẳng thể tìm thấy ở nơi nào khác.

Năm tháng trôi qua, cuộc chiến của họ đã trở thành huyền thoại và tên tuổi những người anh hùng được khắc ghi vào sử sách. Giống như Âm với Dương không thể hòa hợp, cuộc chiến của họ còn vượt qua cả ranh giới giữa Bóng Tối và Ánh Sáng, giữa cái Thiện và cái Ác.

Đó là cuộc chiến giữa Radiant và Dire!

Chương II: Những kẻ tạo ra vạn vật

Mad Moon vỡ tung và năng lượng của nó được chia làm 2 phần, Dire và Radiant. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Những gì mà Mad Moon mang đến cho thế giới mới của nó còn nhiều hơn thế.

Những vũ khí cổ xưa mà không bất cứ ai trên thế giới này đã từng biết về nó trước đây, đó là Demon Edges, thanh gươm quỷ với một màu xanh huyền bí, hay Sacred Relic, mảnh di tích thất lạc từ thượng cổ được tìm thấy, hay những sinh vật kì lạ mà trước đó chưa từng xuất hiện giờ đã bước ra ánh sáng.

Dưới sự ảnh hưởng từ nguồn năng lượng của mảnh vỡ Trăng Điên, thế giới đã khoác lên mình một bộ mặt đầy màu sắc nhưng cũng bao phủ một bức màn những bí ẩn.

Tuy nhiên, bạn thân mến, con người ta chẳng thể cùng một lúc làm được nhiều việc, và ta cũng chẳng thể cùng một lúc kể hết cho bạn nghe cả kho tàng bí mật ấy. Vậy nên, hỡi người trẻ tuổi, hãy kiên nhẫn và lắng nghe câu chuyện mà ta sẽ kể ngay sau đây – câu chuyện về những kẻ đầu tiên xây dựng thế giới sau vụ nổ Mad Moon.

1. Dải lụa sáng chế 

“Fate weaves the threads of our lives together. Fate also wields the blade that cuts them short.” (Định Mệnh thêu dệt và ràng buộc chúng ta lại với nhau. Định Mệnh đồng thời cũng là lưỡi kéo cắt đứt chúng)

Từ xa xưa, khi vũ trụ được hình thành và còn chưa có Mad Moon, tất cả những hành tinh và thế giới mới khi được tạo ra hoặc bị hủy diệt đều được những Weaver thực hiện trên một thứ gọi là Dải lụa sáng thế (Fabric of creation). Do có quyền năng to lớn như vậy, nên nó rất cần được chăm sóc một cách cẩn thận và liên tục, để phòng ngừa việc nó trở nên rách nát; bởi vì, một khi tấm lụa ấy bị phá ra thành từng mảnh nhỏ, toàn bộ thế giới sẽ bị hủy diệt chỉ trong chốc lát.

“Bộ tộc Weaver phải gánh trên mình sứ mệnh lớn lao ấy.”

Họ phải giữ cho tấm lụa luôn bền chặt và dùng Chiếc lưới của sự thật (Mesh of reality) để tu bổ những chỗ bị hao tổn. Bọn họ đồng thời cũng phải phòng ngừa những “con sâu” (Thing) có thể gặm nhấm và đẻ trứng trên các chỗ bị sờn rách của tấm lụa, chỉ cần các Weaver phân tâm trong chốc lát, những con ấu trùng của “đám sâu” đó có thể cắn nuốt toàn bộ vũ trụ một cách nhanh chóng.

“Skitskurr là một gã Weaver cấp đại sư, phụ trách tu bổ và giữ cho một mụn vá nhỏ trên Dải lụa sáng thế được chặt chẽ và không bị hao mòn.”

Thế nhưng, nhiệm vụ này chưa bao giờ có thể thỏa mãn hắn, hắn thường xuyên lải nhải về công việc sáng tạo ra tất cả trong quá khứ, đồng thời cũng tỏ ra bất mãn với việc Loom (người tạo ra Dải lụa sáng thế ) đã bỏ đi sau khi hoàn thành công việc của mình. Skitskurr luôn muốn sáng tạo chứ không phải duy trì những thứ đã cũ – hắn muốn dệt ra một thế giới dựa theo thiết kế của chính mình.

Điều gì đến cũng phải đến, Skitskurr đã không thể kiềm chế được bản thân mình khi nắm trong tay quyền năng tối thượng. Hắn bắt đầu thay đổi cái mụn vá nhỏ mà hắn phụ trách, và cái công việc sáng tạo ấy gây nghiện đến mức hắn không thể dừng lại được. Lá gan của hắn ngày một lớn hơn, thậm chí lớn đến mức dám sửa sang và chống lại những thiết kế ban đầu của Loom.

May mắn thay, bộ tộc Weaver không để yên cho hành động của Skitskurr. Bằng cách sử dụng cây kéo của mình, cái thế giới mà Skitskurr dệt ra đã bị cắt bỏ khỏi Dải lụa sáng thế bởi những người của bộ tộc Weaver. Sau đó, họ lại bắt đầu “dệt”, mà không có Skitskurr.

Skitskurr chợt nhận ra rằng mình chỉ còn có một mình và đã bị xa lánh bởi toàn bộ tộc. Với nhữngWeaver khác, đó hẳn là một sự tra tấn. Nhưng với Skitskurr mà nói, hắn lại thấy vô cùng sung sướng, bởi vì giờ hắn đã được tự do. Tự do để sáng tạo, tự do để bắt đầu một cái mới.

Và khi mà vụ nổ Mad Moon xảy ra, Skitskurr nhận ra rằng những nguyên liệu để hắn dệt ra một thế giới mới, tất cả đều đang ở xung quanh hắn. Xé chúng ra từ thế giới cũ, bắt đầu từ những điểm mà nó vốn đã bị hao mòn – đó chính là cách mà thế giới của Dota dưới bàn tay của Skitskurr được hình thành.

Hoan hỉ trước thành quả của mình, nhưng Skitskurr không thể nghỉ ngơi ngay lập tức. Thế giới mà hắn tạo ra vẫn còn bị bao trùm bởi màn đêm, âm u và đầy sát khí. Nắm giữ năng lượng của Radiant vàDire, nhưng hắn không biết cách để tạo ra sự sống xung quanh nó. Và lúc này, một người nữa đã xuất hiện giúp để Skitskurr hoàn thành sứ mệnh cao cả – Elder Titan.

2. Người xây dựng sự sống – Elder Titan

Chàng trai trẻ, cậu đã biết được cách mà thế giới này được tạo ra, nhưng có bao giờ cậu tự hỏi mình rằng:

Tại sao trong tất cả những thế giới được tạo ra, duy nhất thế giới này lại có những đặc tính kì lạ, nơi hội tụ của những sinh vật thần bí, nơi mà người ta xây dựng một cộng đồng hùng bá và truyền tay nhau những câu chuyện sử thi?”

Hãy lắng nghe ngọn gió thì thầm ngoài kia, và câu trả lời hẳn sẽ còn vang vọng mãi trong sâu thẳm trí óc cậu: “Hãy tìm đến những Titan”.

“Skitskurr là kẻ đã tạo nên thế giới này, nhưng thế giới này trở nên phồn thịnh và đầy màu sắc như ngày nay chính là đo công lớn của Elder Titan.”

Sinh ra là một thành viên của đại gia đình Titan, ông là một trong những người thợ rèn sáng tạo nên các thế giới. Xuất hiện từ những ngày hiện thực bắt đầu hình thành và tồn tại cùng với những năng lượng đầu tiên của vũ trụ, mong ước của họ là được tự tay tiếp tục công cuộc sáng tạo nên hiện thực. Thế là họ đã vùi đầu vào việc rèn đúc vật chất theo ý thích của bản thân: đập và nung, uốn và thổi.

Cho đến khi làm chủ được vật chất, thì điều đó đã không còn là một thử thách khó khăn với họ, các Titan hướng mục tiêu sang chính bản thân mình, rèn lại trí óc và linh hồn cho đến khi trở thành một sinh vật với sức chịu đựng phi thường và hoàn hảo hơn. Sau khi hoàn thiện chính mình, họ bắt đầu hoàn thiện cái gọi là hiện thực. Điều này trở thành mục tiêu tối thượng của trong sự nghiệp của các Titan. Tuy nhiên, trong sự nghiệp vĩ đại này, thỉnh thoảng họ đã làm sai. Bởi khi tham vọng quá lớn, sai lầm là khó tránh khỏi.

“Người mà chúng ta biết với cái tên Elder Titan là một người tiên phong vĩ đại, người đã nghiên cứu kĩ lưỡng việc rèn nên hiện thực.”

Trong khi luyện tập các kĩ năng của mình, ông đã đập nát những thứ mà ông cho rằng không thể chỉnh sửa được và ném chúng qua một bên. Nhưng rồi Elder Titan lại bế tắc, ông chẳng thể sáng tạo thêm những hiện thực nữa, ông ngán ngẩm bên những mảnh vụn mà ông đã đập bỏ. Tại đây, ông lần mò trong không gian u tối của thiên hà và đi lang thang qua những mảnh vật chất đã bị đập nát.

Đi ngang qua Mad Moon, chứng kiến vụ nổ của chưa từng thấy trong vũ trụ và lóa mắt trước ánh trăng chói lọi của nó, Elder Titan cảm thấy dễ chịu một cách lạ kì. Dõi theo hành trình sáng tạo ra thế giới mới của Skitskurr, ông tự nhủ rằng có lẽ mình cũng nên giúp hắn một tay.

Một tia sáng lóe lên làm ông mắt ông sáng bừng một ngọn lửa đã bị tắt bấy lâu nay. Ông thu gom những sự sống trôi dạt ở khắp nơi trong vũ trụ, hội tụ chúng tại thế giới mới mà Skitskurr đã xây dựng. Nắm trong tay hai nguồn năng cổ xưa bị chia cắt từ Mad Moon, ông xây dựng thế giới Dota từ những mảnh vụn ấy – những Ancient của Dire và Radiant.

Và đây chính là lí do vì sao thế giới mà chúng ta biết lại giống như một tập hợp của những mảnh địa chất trôi dạt, những thứ còn lại của một đống hỗn độn đã bị bỏ quên từ lâu từ thế giới cũ của nó.

Ông dành thời gian vĩnh cửu của mình để tìm cách sửa lại thế giới, nơi ông có thể tìm lại được những phần còn lại của linh hồn, để chúng ta và cả thế giới đều được hàn gắn. Elder Titan tạo ra các nguyên tố cơ bản (Fundamental) cùng Seven Planes kì bí nhằm giúp cân bằng sự sống nơi đây.

Vậy đó, đó là cách mà thế giới Dota hình thành và phát triển như ngày nay. Ngay cả những kẻ tạo ra vạn vật như Elder Titan và Weaver cũng thỉnh thoảng tham gia trận chiến giữa Dire và Radiant. Lúc họ là Dire, lúc họ là Radiant,lúc họ là kẻ thù, nhưng cũng có lúc họ lại là đồng minh.

“Dù không được nhớ đến như những người khai sinh thế giới và bị lãng quên bởi những anh hùng trẻ tuổi, nhưng họ luôn được ghi nhớ trong sử sách như những kẻ vĩ đại nhất.”

Thi thoảng họ cũng có ghé qua chỗ ta để mua những món đồ cần thiết. Thật may mắn là ta có một trí nhớ tương đối tốt để nhớ được những câu chuyện về họ.

Anh bạn trẻ, như vậy là ta đã kể cho cậu nghe câu chuyện về hai kẻ tạo ra vạn vật, nhưng cậu biết đấy, mọi thứ vẫn chưa dừng lại ở đây. Nhưng đáng tiếc thay, đã đến giờ mở cửa hàng rồi. Ta nghe thấy tiếng trống của cuộc chiến luân hồi kia đã vang lên.

Một cuộc chiến mới lại chuẩn bị bắt đầu. Nó luôn làm ta cảm thấy phấn khích một cách kì lạ. Dù sao thì đây cũng là nhiệm vụ của một Shopkeeper, chỉ là làm ăn thôi cậu bé.

Chương III: Bộ tứ nguyên tố

Chàng trai trẻ, có lẽ ta còn nợ cậu câu truyện về Bộ Tứ Nguyên Tố (The Four Fundamentals), những kẻ đã cùng Elder Titan xây dựng nên thế giới này. Trên thực tế, họ đều là những thực thể tượng trưng cho các nguyên tử cấu thành nên vũ trụ.

Lực Mạnh (Strong Force) – Io, The Guardian Wisp, Lực Yếu (Weak Force) – Nessaij, The Chaos Knight, Lực Điện Từ (Electromagnetic Force) – Ezalor, Keeper of the Light và Lực Hấp Dẫn (Gravititational Force) – Enigma, The Darchrow. Đó chính là bốn nguyên tố mà Elder Titan tạo ra để có được sự cân bằng cho thế giới như ngày nay.

1. Enigma, The Darchrow – Hố đen của vũ trụ

“If light cannot escape me, what hope have you?” – Nếu ánh sáng không thể chạy thoát khỏi ta, thì ngươi còn hi vọng vào điều gì?

Khó có thể tìm thấy sự thật về lai lịch của Enigma, bản thân hắn là một thứ vô cùng bí ẩn. Sự tồn tại của gã được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng những câu truyện truyền miệng hay truyền thuyết được lưu trên các trang tài liệu cổ ngữ. Ngay cả Elder Titan cũng không thể lí giải hắn đã ra đời như thế nào, cho dù chính ông là người đã tạo ra hắn. Có lẽ, Enigma được ra đời từ lực hấp dẫn của những hành tinh chết cổ xưa, nhờ đó mà Enigma mang trong mình sức mạnh của của vũ trụ, là kẻ nuốt chửng các thế giới.

Hắn hữu hình nhưng đôi khi hóa hư không. Chỉ có một điều chắc chắn, hắn là con quái vật tồn tại giữa các chiều không gian trên khắp thiên hà. Cũng giống như Void – The Darkterror, Enigma có thể đi lại giữa các chiều không gian của vũ trụ.

Có lẽ những câu chuyện về Enigma là một thử thách thực sự đối với ta khi mà có quá nhiều truyền thuyết được người xưa viết về hắn. Có nhiều truyền thuyết nói rằng hắn từng là một nhà giả kim vĩ đại (Alchemist). Với tham vọng giải mã các bí ẩn của vũ trụ, hắn đã bị chính vũ trụ nguyền rủa bởi cái ý định ngạo mạn đó, khiến hắn trở thành một con quái vật như ngày nay.

Một truyền thuyết khác nói rằng hắn là một loại lực hấp dẫn cổ xưa kì lạ, là vực thẳm của nhân cách – một âm thanh âm méo mó, bị vặn xoắn, là thứ nguyên thủy nhất của bóng tối, được hình thành trước khi tia sáng đầu tiên của thế gian xuất hiện.

Và cũng có một truyền thuyết cổ xưa khác nói rằng hắn là một vì tinh tú đầu tiên bị hủy diệt, một lỗ đen vũ trụ được Elder Titan ban cho sinh mệnh đi cùng tính cách phức tạp và có tri giác. Hắn được tạo ra để hủy diệt những hành tinh trên khắp thiên hà và duy trì sự cân bằng trong các chiều không gian của vũ trụ.

2. Ezalor, Keeper of The Light – Người bảo vệ ánh sáng

“I know you cannot see it now, my dear girl, but I was a young gallant once.” – “Ta biết nàng không thể nhìn thấy bây giờ, cô gái, nhưng ta từng là một chàng trai trẻ ga lăng” …!

Cưỡi trên lưng một con bạch mã, ánh sáng tỏa ra từ người ông tựa như vô số vầng thái dương. Người mà ta đang nhắc tới, đó là anh bạn già của ta, Ezalor – Keeper of the Light.

Từ ngày cuộc chiến giữa Dire  Radiant diễn ra, Ezalor đã trút bỏ gánh nặng là một trong Bộ Tứ Nguyên Tố. Hóa thân thành một ông lão móm mém, ông ẩn mình giữa những vị anh hùng trẻ tuổi để cùng chú chiến mã rong ruổi khắp chiến trường.

Ta sẽ bật mí cho cậu một chút về sức mạng thú vị mà Ezalor sở hữu. Ông lão này sở hữu khả năng điều khiển các hạt điện từ trong vũ trụ, bắt đầu từ những hạt nhỏ nhất: photon, hạt lượng tử (quantium), electron… Thứ ánh sáng mà ông ta tạo ra trong chiêu thức Illuminate là ánh sáng được tạo ra từ các hạt lượng tử vốn ẩn chứa một năng lượng đủ mạnh để cuốn sạch quân thù.

Là bậc thầy trong việc cấu thành và tạo nên năng lượng điện từ từ những hạt nguyên tử đó, ông đạt được tốc độ của ánh sáng. Bên cạnh đó, hai kĩ năng Recall và Binding Light cũng được Ezalor tạo nên từ những hạt điện từ.

Ezalor luôn ẩn mình dưới lớp vỏ bọc của một ông lão già nua móm mém và phải cố gắng lắm mới có thể ngồi yên trên lưng ngựa, nhưng khi phải đối diện với sự thách thức hay là những thế lực của bóng tối, thứ ánh sáng nguyên thủy nằm sâu trong ông mới bộc phát, và toàn bộ sức mạnh thực sự của ông mới được giải phóng, biến ông một lần nữa trở về với hình thái thật của mình, con người mang trong mình vạn ngàn tia sáng.

Đã đi qua tất cả các chiều không gian trong cùng một lúc, luôn luôn vượt lên trước sự Hỗn Loạn luôn đuổi theo phía sau ông (mà đại diện là Chaos Knight), ông như một vị thần đáng kính xua đi bóng đêm ở những nơi tăm tối nhất, và người ta gọi ông bằng cái tên đáng kính Ezalor – Keeper of The Light.

3. Nessaij, Chaos Knight – Kị sĩ hỗn mang

“You taught your horse to fly?” – Ngươi dạy con ngựa ngươi cách bay? (nói khi giết Batrider). 

Là một “chiến binh kỳ cựu” đã trải qua vô số các cuộc chiến ở hơn một ngàn thế giới, Chaos Knight đến từ một chiều không gian tối cao, nơi định luật của vũ trụ được sinh ra. Trong số tất cả nguyên tố cổ xưa, hắn là kẻ lớn tuổi nhất và không bao giờ biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ tìm kiếm thứ mà hắn gọi là “Ánh Sáng”, và không biết là cố tình hay hữu ý khi người mà hắn đuổi theo sau chính là anh hắn – Ezalor.

Rất lâu trước kia, ánh sáng đã mạo hiểm thoát khỏi nơi trú ngụ của tổ tiên, thách thức trước giao ước đầu tiên của nguyên tố và vũ trụ. Để sau đó Chaos Knight xuyên qua hết chiều không gian này đến chiều không gian khác, hắn tìm kiếm và rồi sau đó hắn dập tắt toàn bộ ánh sáng. Hàng ngàn lần hắn đã làm như thế, rồi lại tiếp tục xuyên tới một chiều không gian khác để tiến hành cuộc tìm kiếm của mình một lần nữa.

Elder Titan dường như đã tạo ra định mệnh trớ trêu này để duy trì sự cân bằng của vũ trụ, khi mà Ánh Sáng luôn đến trước Bóng Tối để trở thành bình minh, và thời điểm mà Bóng Tối chạm tới đuôi của Ánh Sáng, đó là hoàng hôn.

Cưỡi trên lưng con chiến mã Armageddon, hắn điên cuồng lao vào chiến trường, vẽ nên sức mạnh của bản thân đến từ sự hỗn loạn của vũ trụ. Hắn chính là đại diện vật chất của sự hỗn loạn, khi cần thiết, hắn có thể triệu hồi chính mình từ những chiều không gian khác. Những gã kỵ sĩ bóng tối này lao vào chiến trường, tựa như những sức mạnh của tự nhiên mà không gì có thể cản nổi. Chỉ khi nào “Ánh Sáng” cuối cùng bị hủy diệt một cách hoàn toàn, cuộc săn lùng của hắn mới có thể chấm dứt.

Vó ngựa Armageddon đi tới đâu, cái chết sẽ sớm theo tới đó, và như số mệnh đã định sẵn, hắn sẽ mãi mãi phải đuổi theo ngàn vạn ánh sáng của Ezalor.

4. Io, the Guardian Wisp – Kẻ giám hộ của thần linh

Wisp là một sinh thể tồn tại ở khắp nơi, ở khắp vạn vật. Một vài kẻ lên án nó như một kẻ phá hoại, những vị học giả thì lại tôn sùng nó như thánh thần. Có một tài liệu cổ nói rằng, Wisp chính là một con mắt của thần linh.

Bao phủ quanh quả cầu bé nhỏ này là những màn sương đầy ắp ánh sáng. Một thứ ánh dáng dịu dàng và không rực rỡ, nhưng lại mang trong mình quyền năng vô hạn. Wisp có thể tồn tại ở trên tất cả các chiều không gian, mỗi một mảnh nhỏ trong thân thể nó đều có thể biến hóa vật chất ở bất kỳ thời điểm nào.

Tựa như cặp kỵ sĩ song sinh vĩ đại của bóng tối và ánh sáng (Nessaij  Ezalor), hay như bất kỳ nhà du hành nào khác tới từ thời cổ đại, với quá khứ và lai lịch đã bị quên lãng thời gian, Wisp là một Fundamental – một thực thể lang thang qua các lãnh địa và vượt xa ngoài tầm hiểu biết của loài người, một dạng vật chất đại diện cho lực hấp dẫn, lực hút và lực đẩy, là vật chất liên kết tất cả các vật chất còn lại.

Wisp cũng là sinh vật đầy thiện ý. Nó rất thích kết nối sức mạnh của nó với người khác, khiến năng lượng của họ càng trở nên mạnh mẽ. Không ai biết được mục đích của nó là gì, cũng như không ai tưởng tượng nổi sức mạnh của nó, Wisp xuyên qua các chiều không gian vật chất, là sự biểu hiện hoàn hảo cho sự thần bí của vũ trụ. Và đối với ta, khỏi phải nói đó là sinh vật kì diệu nhất trên thế giới Dota này.

5. Kaldr, Ancient Apparition – Oan hồn cổ đại

“Enigma, elemental to elemental.” – “Enigma, đó là những gì một nguyên tố gửi tới một nguyên tố!” (Sau khi giết Enigma).

Đây là một câu chuyện khá đặc biệt mà ta sẽ kể lại cho cậu, chàng trai trẻ. Hãy nhớ lại trước đây, khi Mad Moon nổ tung, đã có thời thế giới trở nên hỗn mang, mặt đất bị bao phủ bởi nham thạch và băng giá. Những oan hồn từ mảnh vỡ Trăng Điên trước kia đi theo tiếng gọi của cái giá rét tận cùng, luồn lách qua những kẽ hở của lục địa, tập trung vào một tảng băng kì lạ đến từ hư không, và hắn – Kaldr, the Ancient Apparition được ra đời. Kaldr là kẻ có ý thức về vũ trụ ngay từ khi hắn chào đời. Hắn sinh ra từ những linh hồn oan khuất, đã chứng kiến cả cảnh vũ trụ được sinh ra, cũng như đang chờ đợi giây phút mà nó lụi tàn.

Không tiếp xúc nhiều với sinh vật kì bí này, nhưng ta có thể khẳng định rằng, hắn được sinh ra trước khi Elder Titan tạo ra các Fundamental. Do mang trong mình sự u uất của hàng ngàn linh hồn cổ xưa, hắn có một tầm hiểu biết vô hạn về vũ trụ. Và hơn hết, hắn là một kẻ nguy hiểm, anh bạn trẻ chớ có đụng vào.

Băng giá của Kaldr có thể khiến vạn vật bị đông lại, hình chiếu của hắn sẽ tạo ra một tia sáng chói lòa khủng khiếp vượt ngoài tầm nhìn. Hắn đã vượt quá tầm khả năng của một u hồn từ lâu. Hắn vốn coi Enigma là một Elemental (nguyên tố), nhưng Enigma không đồng ý với điều đó. Enigma nói rằng Kaldr đã nhầm và gã vượt qua tầm hiểu biết của Kaldr. Tuy nhiên, Enigma cũng rất nể Kaldr, khi công nhận Kaldr sở hữu quyền năng ngang ngửa một Fundamental.

Như vậy là ta đã kể về Bộ Tứ Nguyên Tố, những kẻ đã cùng với Elder Titan tạo nên thế giới Dota phồn thịnh như ngày hôm nay. Lần tới, sẽ là câu chuyện về Diretide, bí ẩn về đêm dài nhất lịch sử Wraith Night và những lễ hội được chào đón hàng năm trong thế giới Dota vạn sắc màu này….

“Một thế giới mới được khai sinh từ những đống đổ nát, những trang sử sẽ được viết tiếp bằng máu của những vị anh hùng, và những câu chuyện huyền thoại mới cũng được bắt đầu.”

Chương IV: Thế giới mùa xuân

1. Diretide

Trong một thời khắc tối tăm của lịch sử, đột nhiên sức mạnh của bóng tối bỗng nổi dậy mạnh mẽ mà chẳng ánh sáng nào có thể cản nổi. Vào những đêm trăng tròn, Lycan sẽ biến hình thành con sói mà chẳng rõ lí do. Màn đêm buông xuống tưởng như chẳng bao giờ chấm dứt, đó là khi Night Stalker trở nên khát máu và bản năng săn mồi của hắn trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Đó là Diretide, một sự kiện u tối trong thế giới Dota. Lúc này mọi sự cân bằng gần như biến mất, thế giới chìm trong bóng đêm của sự hỗn loạn. Khi đó, những con greevil được sinh ra trở nên không thể kiểm soát, và sức mạnh của Radiant gần như bị biến mất. Đây là thời điểm mà những vị anh hùng của hai bên, một trở nên mạnh lên, và một thì rơi vào điểm yếu nhất.

Mặc dù vậy, cả hai bên đều có giao kèo rằng, khi xảy ra Diretide, tất cả sẽ tạm đình chiến. Đối với họ, còn có thứ khác đáng để chiến đấu hơn. Đây là thời điểm mà hero của cả hai bên sẽ cùng nhau hợp sức để làm dịu cơn phẫn nộ của Roshan và những kẻ chế ngự được Roshan sẽ giành được những phần thưởng vô giá.

Về phần Roshan, Diretide là sự kiện hàng năm nhắc nhở hắn về kí ức xưa kia. Kí ức của kẻ đã giết chết một Shopkeeper và ăn cắp Aegis. Hắn trở thành con quỷ như ngày nay sau khi bị trừng phạt bởi Lời nguyền vĩnh cửu dành cho một tên trộm.

Trấn giữ Aegis of Immortal, mỗi khi hắn chết đi, hắn sẽ để lại chiếc khiên huyền thoại này cho kẻ xứng đáng nhất để nắm giữ sự bất tử. Nhưng lời nguyền cổ xưa không làm hắn chết hẳn, mà chỉ là một cái chết tạm thời, đến khi tích tụ đủ năng lượng và chiếc Aegis of Immortal cũ biến mất, hắn sẽ lại được hồi sinh, chỉ để đảm bảo rằng thế giới sẽ luôn luôn có duy nhất một chiếc Khiên bất tử được tồn tại.

Chán ngấy với việc bị quấy rầy bởi những vị anh hùng trẻ tuổi và chứng kiến hàng triệu những kẻ chết đi để rồi lại được hồi sinh, Roshan trở nên điên loạn hơn bao giờ hết. Hắn trở nên đói khát. Nhưng cũng kì diệu thay, hắn không trở nên hung bạo như lúc chiến đấu với những vị anh hùng. Hắn đi nhẹ nhàng trên những  bãi chiến trường chỉ để tìm kiếm thứ có thể làm hắn dịu đi và thỏa mãn sự đói khát trong tâm hồn hắn – viên kẹo Greevil Taffy. Greevil Taffy được tạo ra bởi những con greevil. Nó được làm theo một công thức cực kì kinh khủng mà cũng đậm chất nghệ thuật thông qua bàn tay của những con Greevil. Lạ lùng là viên kẹo này có thể trấn an được Roshan.

Nhưng việc chế ngự Roshan cũng chẳng dễ dàng gì. Cơn đói khát của Roshan khiến sức mạnh của hắn như được khuếch đại,  vượt xa những giới hạn trước đây. Đó chính là lí do vì sao những anh hùng buộc phải hợp sức để chế ngự con quái vật này trước khi sự việc đi quá xa.

Krobelus, the Death Prophet, sẽ có nhiệm vụ quan sát và chỉ dẫn cho các anh hùng thời điểm xảy ra sự kiện này. Ả là kẻ nhìn thấy tất cả đằng sau bức màn bí ẩn của Diretide – những hiểu biết của ả được so sánh như những lời tiết lộ của các Ancient.

Tuy nhiên điều đáng sợ nhất trong những ngày xảy ra Diretide, đó là khi Roshan cố gắng tìm cách cho ra đời những “truyền nhân” của nó. Chúng được gọi là những con Roshlings. Không ai biết những con Roshings này từ đâu ra, có một vài phỏng đoán cho rằng chúng xuất hiện khi số lượng trứng greevil trở nên mất kiểm soát hoặc chúng xuất hiện tại nơi mà các vị anh hùng trải qua cuộc chiến với Roshan.

May mắn thay, một vài người đã nhìn thấy các anh hùng đã thuần hóa chúng và sử dụng chúng như một con vật để chở đồ. Những lời đồn đại không dừng lại ở đó khi có những người đã khẳng định rằng đã nhìn thấy họ sử dụng một con Golden Roshan, một trong những con Roshing cực kì giá trị và hiếm gặp.

2. Frostivus

Ah, Frostivus, một kẻ kinh doanh như ta không thích thời điểm này tí nào, thật sự đây là thời điểm làm ta khốn đốn nhất khi mà không bán được món item nào cả. Thay vì mua những món vũ khí để phục vụ chiến đấu, các vị anh hùng sẽ đến chỗ ta để mua những món quà xinh xắn.

Frostivus là một lễ hội được tổ chức khi mà thời điểm lạnh nhất trong năm đến gần. Cũng giống như Diretide, lúc này các hero của cả hai bên sẽ tạm đình chiến và lui về Ancient của mình để tránh cái giá lạnh của mùa Đông. Đây là khoảng thời gian ấm áp trong bầu không khí hạnh phúc, hòa bình, và những người chiến hữu từng kề vai sát cánh với nhau sẽ trao cho nhau những món quà để thể hiện sự cảm kích với đồng đội của mình. Lúc này, khu vực giao chiến giữa Dire và Radiant sẽ được bao phủ bởi băng tuyết lạnh lẽo – đó chính là lí do để hai bên kí thỏa ước ngưng chiến.

Trong những ngày này, những anh hùng của hai bên đều tham gia trò chơi “Ice-Is-Not-Nice”, họ thi nhau uống rượu và “chuốc” rượu lẫn nhau. Khi trò chơi kết thúc, có một phần tên là “Star of Madness”. Đây là phần mà Rooftrellen kể lại câu chuyện về Mad Moon và sự hình thành nên thế giới này cho các vị anh hùng trẻ tuổi.

Tuy nhiên, ý nghĩa thật sự của ngày hội Frostivus nằm ở sự kiện có tên “Ngày trao quà”. Những món quà thu hút mọi sự chú ý của mọi người. Họ tặng quà cho nhau, những món quà xinh xắn được đóng gói từ Secret Shop, và sẽ chẳng ai bận tâm đến việc một chiếc Mekansm không có chủ ở đó cả.

Ngày lễ Frostivus hiển nhiên là một ngày lễ phảng phất những phép thuật kì lạ kết nối mọi người lại, giúp họ quên đi cái giá rét của mùa đông. Ngay cả những thế lực tà ác cũng không thể phá hoại ngày lễ này, bởi theo một cách nào đó, sức mạnh của chúng bị suy giảm khi có ý định phá rối Frostivus. Với những điều tốt đẹp mà Frostivus mang lại, chắc chắn nó sẽ còn được chào đón qua ngàn vạn năm về sau.

3. The Greeviling

Đây là một sự kiện kinh khủng vừa xảy ra vào năm ngoái. Ngày hội Frostivus đã bị hoãn lại do sự xuất hiện bất thường của những con Greevil. Những con vật phá phách này đi cùng nhau với một số lượng lớn bất thường.

Không ai biết được tại sao chuyện kì lạ này lại xảy ra, bởi chắc chắn một người bình thường đều hiểu rằng nếu như cho một quả trứng greevil tiếp xúc với những tinh chất ma thuật sẽ mang đến hậu quả khôn lường. Dù sao đi nữa, điều đó đã xảy ra rồi, và nó làm ta vẫn còn cảm thấy hãi hùng khi nghĩ về nó.

Greevil là những con thú kì lạ được tạo ra khi tiếp xúc với tinh chất của phép thuật. Màu sắc, hình dạng và cả tính cách của chúng được hình thành dựa vào loại tinh chất phép thuận mà chúng tiếp xúc khi còn là nằm trong trứng.

Điều duy nhất làm ta không thích ở những con vật này chính là sự phá phách của chúng. Những con thú trời đánh này đã cỡi lên con Woode Eadweard của Secret Shop và ăn cắp hết những món quà dành cho ngày lễ Frostivus.

Việc này đã dẫn đến một tác động xấu khiến chúng bị nguyền rủa bởi một sức mạnh bí ẩn. Mặc dù vậy, có vẻ như lời nguyền bí ẩn kia đã bị hoãn lại, và số phận của ngày lễ Frostivus cũng như những món quà, lúc này sẽ được đặt lên đôi tay của những vị anh hùng đang sinh sống ở vùng thung lũng nơi xảy ra cuộc chiến giữa Radiant và Dire.

Đám greevil chết tiệt đã chiếm giữ từng vùng đất yên bình và biến chúng trở thành một mớ hỗn độn. Hơn nữa, một điều kinh khủng nữa xảy ra khi mà người ta đã không còn nhìn thấy sự xuất hiện của Roshan tại nơi mà đáng lẽ ra nó phải ở đó, và thay thế vào đó là một con Mega Giga Greevil Roshan. Dù mới chỉ là lời đồn đại nhưng cũng đủ để làm cho bất cứ kẻ gan dạ nào cũng phải khiếp sợ.

bien-nien-su-d2-iv-6

Tusk lần này sẽ là người chỉ đường cho các anh hùng tìm kiếm các món quà đã bị đóng băng bởi băng tuyết của Frostivus. Hòa ước Frostivus bị bãi bỏ, và các anh hùng của hai phe Dire và Radiant một lần nữa đứng hai bên chiến tuyến để dành giật những món quà đến từ việc “hóa kiếp” những con greevil.

4. Wraith Night

Một truyền thuyết kể lại rằng, khi sự sống của Skeleton King Ostarion sắp lụi tàn, những mẩu xương mục nát của hắn dường như trở thành một cái lồng khiến cho sức mạng tiềm ẩn bên trong hắn không thể vượt qua. Cái chết sắp đến gần, hắn chỉ còn hai lựa chọn: một là phải chết trong thân xác sắp mục rữa này, và nếu hắn muốn sống, thì hắn sẽ phải làm một điều điên rồ nhất từ trước tới nay.

Với tham vọng được một lần nữa tìm lại sự sống trước kia, hắn đã hủy bỏ ngày hội Frostivus – đúng vậy anh bạn trẻ, một lần nữa, Frostivus lại một lần nữa bị hủy bỏ. Và hắn yêu cầu một cuộc xung đột xảy ra tại vùng đất hắn sinh sống. Những người phục tùng hắn sẽ được nhận những phần thưởng xứng đáng, và những kẻ không phục tùng hắn sẽ phải đánh bại hắn. Hắn đã trở thành Wraith King, một kẻ đơn độc đe dọa đến toàn bộ những kẻ sinh sống trong vùng đất này.

Và thế là một cuộc chiến tưởng như vô tận đã xảy ra tại vùng đất phủ đầy băng tuyết của mùa Đông giá lạnh. Một bên là những người chống lại kẻ tự xưng là Wraith King và một bên là những vị anh hùng đã thề sẽ bảo vệ cho Wraith King tương lai. Đêm đó, quy luật của tự nhiên đã bị phá vỡ, khi hạt bụi không còn trở thành những mảnh vỡ phù du, khi những linh hồn tan vỡ siêu thoát lên bầu trời, và tưởng như đó là điềm báo về sự ra đời của một thứ vũ khí nhiệm màu.

Rất ít người còn sống để chứng kiến câu chuyện về Wraith-Night, đêm dài nhất sau một thiên niên kỉ. Có một vài tài liệu cổ ghi nhận được rằng có nhiều kẻ đã đi vào ngôi đền của những linh hồn trong đêm Wraith-Night và vĩnh viễn không thấy kẻ đó trở về. Những câu chuyện bí ẩn về những gì xảy ra trong đêm Wraith Night vẫn còn bỏ ngỏ, nhưng từ ngày Wraith King lên trị vì, hắn đã biến những đêm Wraith Night thành những ngày hội ban thưởng sau mỗi thiên niên kỉ. Vùng đất của hắn được trang hoàng bởi những bóng ma uẩn khúc chờ ngày siêu thoát.

5. New Bloom

New Bloom là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, và cũng là thời khắc xảy ra nhiều hỗn loạn nhất – đi cùng với nó là những phần thưởng cũng giá trị không kém.

Hàng năm, khi cái giá lạnh của mùa đông phải nói lời tạm biệt với những tấc đất màu mỡ của Dire và Radiant, quá trình phục hồi sẽ được bắt đầu. Những bông tuyết trắng xóa và cơn gió rét buốt giờ nhường chỗ cho những bông hoa đào nở rực rỡ, vạn vật như khoác lên mình một chiếc áo mới đầy màu sắc. Và hàng năm, người ta lại kể lại câu chuyện từ ngàn xưa này cho những đứa trẻ, câu chuyện về Year Beast.

Mỗi năm, khi bóng tối và băng giá bắt đầu lụi tàn khi chúng lên đến đỉnh điểm, những năng lượng tự nhiên vốn đã ngủ sâu trong suốt những tháng qua bắt đầu tích tụ lại. Khi những cánh hoa đào đầu tiên nở rộ, Year Beast bắt đầu chuyển mình và cất lên tiếng rống đầy tàn bạo và đói khát.

Câu chuyện về Year Beast đã có từ hàng ngàn năm trước, khi con thú này lao vào những trận chiến một cách điên cuồng giữa Dire và Radiant.

Người dân giữa hai vùng đất đã chuẩn bị pháo hoa để đuổi con thú này đi, tuy nhiên, việc này chỉ thực sự hiệu quả khi pháo hoa được tạo ra từ Flamesalt Ingots, một loại vàng được tinh chế. Các anh hùng đã chung tay với nhau để chế ngự nó và khi họ học được cách điều khiển con thú này, mọi thứ lại diễn ra theo một hướng khác. Khi đó, Radiant và Dire mỗi bên cũng điều khiển một con Year Beast của riêng mình và dùng nó như một thứ vũ khí để chiến đấu.

Nhưng ngày New Bloom không chỉ có duy nhất điều khủng khiếp đó, đây cũng là khoảng thời gian mà những may mắn đầu năm và những phép thuật nhiệm màu được hồi sinh cùng với những tinh linh của trời đất. Mỗi anh hùng đều có một món quà để bày tỏ lòng thành kính tới Eight Shades of Fortune với hi vọng rằng họ cũng sẽ nhận được những may mắn trong năm mới.

Và khi mọi thứ đi vào quy luật, sự kiện hàng năm New Bloom đã trở thành một Ngày Hội Mùa Xuân – New Bloom Festival, và người dân đã chào đón ngày lễ này bằng hàng ngàn ngọn đền trời cùng với những cây pháo hoa rực rỡ sắc màu.

6. Nemesis Assassin

Một sự kiện ít được biết đến nhất trong thế giới Dota, đó là Nemesis Assassin. Oracle là một nhà tiên tri khác hẳn với những nhà tiên tri khác, như Nature Prophet hay Dead Prophet. Là một kẻ được hấp thu những gì tinh hoa nhất của những sức mạnh trong vũ trụ, hắn thông hiểu vạn vật và luôn để lại những lời sấm truyền chính xác đến kinh ngạc.

Hắn biết rằng những nguồn tri thức tự nhiên tối cao được kéo ra qua hàng ngàn vũ trụ song song, với những gì mà hắn tìm hiểu được, trong một số vũ trụ hắn sẽ bị giết, và điều này buộc hắn phải hành động để ngăn điều đó lại.

Một tham vọng ích kỉ kết hợp với sự thật – tất cả được gói gọn trong một cái gương với thanh gươm song sinh. Phantom Assasin là kẻ được chọn để duy trì mạng sống cho Nerif, và hắn đã trao cho cô Manifold Paradox, sức mạng để vượt qua những vũ trụ song song để thực hiện nhiệm vụ. Và khi mọi thứ hoàn tất, một hiện thực mới sẽ được tạo ra.

Chương V: Những chủng tộc trong thế giới muôn màu

Trải qua hàng ngàn năm phát triển, các học giả đã phát hiện ra vô số những chủng tộc đã từng tồn tại trong thế giới Dota 2. Năm tháng trôi qua, có những chủng tộc gần như biến mất, hoặc chỉ còn sót lại dấu tích của một vài cá thể. Ngày hôm nay, chúng sẽ cùng tìm hiểu về những chủng tộc trong Dota 2.

Hiện tại, người ta chia ra làm ba loại chính: Humanoid (Giống Người), Otherworld (Thế Giới Khác) và Other (Khác – chưa tìm được thông tin). Đây là một bài viết đồ sộ và bao quát hầu như gần hết thế giới Dota 2. Do vậy, để không gây nhầm lẫn cho người đọc, chúng tôi quyết định chia ra làm ba phần để bạn đọc tiện theo dõi. Ngay bây giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chủng tộc đầu tiên: Humanoid.

A. Humanoid (Giống Người)

Trong chủng tộc này lại chia ra nhiều loài như: Human (Người), Deformed Human (Người Biến Dạng), Former Human (Hình Thái Người).

Những vị anh hùng dưới đây được cho là thuộc về chùng tộc Humanoid. Dưới sự ghi chép của các học giả, họ dựa vào tiểu sử của họ, những câu chuyện được truyền miệng cho đến những kĩ năng của họ trên chiến trường. Dưới đây là một số ghi chép còn sót lại của các anh hùng thuộc Humanoid.

1. Order of Aeol Drias

Một tổ chức gồm các War-Mage, dòng pháp sư học tập các phép thuật để chiến đấu, khác với các pháp sư dòng học giả, chỉ chuyên nghiên cứu các vấn đề thâm ảo về phép thuật, thường thì cũng không có sự phân chia rõ ràng giữa hai dòng này, vì cả hai đều có thể chiến đấu, nhưng rõ ràng là War-Mage thiện chiến hơn. Silencer được huấn luyện bởi tổ chức này. Vì theo lời tiên tri, hắn sẽ trở thành Pháp sư mạnh nhất chưa từng có trong lịch sử và mang lại vinh quang cho tổ chức trong suốt 200 năm. Đồng thời hắn cũng là kẻ hủy diệt cho kẻ thù truyền kiếp của họ, tổ chức Knights of the Fold.

2. Thị tộc Hazhadal Barrens

Bộ tộc mà Chen được sinh ra. Thông qua kỹ năng thuần phục động vật cổ xưa, những đồng bào của Chen dốc sức chăm nuôi những con Locuthi (một loại thú của sa mạc, có lẽ giống con thú mà Chen đang cưỡi). Thị tộc này chủ yếu là các dân du mục, sống bằng việc cướp phá với các thị tộc khác. Cuối cùng, thị tộc này bị tiêu diệt bởi Hội kỵ sĩ thuộc dòng Fold (Knights of the Fold).

3. Hội kỵ sĩ thuộc dòng Fold (Knights of the Fold)

Hội kỵ sĩ thuộc Fold bao gồm các chiến binh được huấn luyện và sùng bái một đạo bí ẩn. Không có nhiều tài liệu về hội này. Chỉ biết, vị thần mà Chen và Hội này thờ phụng tên là Obelis. Chen sau khi được “chuyển đạo” đã gia nhập tổ chức. Với sự cuồng tín đến từ lần “chuyển đạo” nọ, và với khả năng thuần hóa động vật nay đã đạt đến đỉnh cao, Chen tìm kiếm những kẻ vô thần, và “giới thiệu” họ đến với “phần thưởng” cuối cùng của mình – cái chết!

4. Vương quốc Cladd

Cladd là một vương quốc hùng mạnh với những hạm đội được trang bị tân tiến. Họ sở hữu những chiến hạm được trang bị những khẩu pháo được chế tác với công nghệ kì lạ. Người ta cho rằng có lẽ họ có một vài kĩ sư thuộc tộc Keen, vốn là tộc nổi tiếng với những thiết bị công nghệ tối tân, hoặc cũng có thể Vương quốc Cladd đã có một giao dịch thương mại để sở hữu những công nghệ này.

Kunkka là một thần dân của Vương quốc Cladd, ông đã cùng hạm đội của mình chiến đấu bảo vệ quê hương một cách quả cảm. Mất hết tất cả, những con tàu bị nốt chửng vào từng cơn sóng biển đang gào thét. Kunkka đưa ánh mắt buồn bã nhìn về nơi linh hồn của những người đồng đội phải rời xa. Ngọn sóng của bờ biển Keen trút từng cơn giận dữ vào bờ cát. Nhưng một lần nữa, người ta lại thấy bóng Kunkka ẩn hiện trên con tàu “The Mighty Leviathan”, và đến giờ người ta vẫn chưa biết được liệu Kunkka có còn sống hay chỉ là một linh hồn của người thuyền trưởng còn vương vấn những người đồng đội cũ.

5. Xứ sở Avernus

Được hình thành từ những hang động bao quanh Font of Avernus, đây là nơi ẩn chứa một sức mạnh vô biên, bao gồm cả những lời tiên tri. Nơi đây có một màn sương đen bao phủ , che dấu những người sống bên trong nó và giúp tất cả những người đó gia tăng sức mạnh.

Lord of Avernus là kẻ mạnh nhất, với sức mạnh đem ra so sánh với những kẻ kế vị trước kìa thì hắn mạnh hơn nhiều. Làm chủ màn sương đen và nghệ thuật giữa sự sống và cái chết, hắn đem lại nỗi sợ hãi cho bất cứ kẻ nào muốn đối đầu với hắn. Khuôn mặt đã bị biến dạng và người ta chẳng thể nhìn thấy gì ngoài con mắt sâu hút như thể nhìn thấu địa ngục.

6. The Faceless Ones

Người đứng đầu của một bộ tộc và hòn đảo nơi Juggernaut sinh sống – Isle of Masks, người ta gọi huyền thoại này là Faceless Ones. Luôn luôn mang trong mình một chiếc mặt nạ, những nghi thức mà ông để lại chính là những gì tinh túy nhất được chắt lọc qua hàng ngàn năm. Những nghi thức này có nhiều khía cạnh khác nhau, và những người kế thừa cũng cực kì đang dạng. Đó có thể là Beast (Sinh vật) và Man (Con người); Ivory và Ebony. Tất cả cống hiến cả cuộc đời mình khi nhìn thấy định mệnh trước mắt.

Juggernaut được sinh ra tại Isle of Masks, sau khi quê hương bị tàn phá, hắn là người duy nhất kế thừa những tinh hoa của “Faceless Ones”.

7. Vương quốc Slom

Một vương quốc hỗn loạn dưới sự trị vì bất công và tàn bạo của tên vua Last King. Nơi đây là nơi sinh của 2 vị anh hùng rất nổi tiếng trong Dota 2 là Rexxax và Banehallow. Lycan và Beastmaster đều sống dưới sự cai trị của “Vị vua cuối cùng của Slom” và bị vị vua này tàn phá cả gia đình. Khác là Lycan thuộc dòng dõi cao quý còn Beastmaster lại chỉ là một kẻ nô lệ. Tuy vậy, cả hai đều chịu số phận giống nhau: Đều bị nhà vua đối xử tàn tệ và phải bỏ nơi mình sinh ra để chạy trốn.

8. Stonehall Denizens

Đây là một thành phố nơi mà tiềm năng quân sự cực kì phát triển. Có rất nhiều thế lực đã đến thành phố này để xây dựng thanh thế, tuy nhiên, khi những cuộc xâm lăng đẫm máu xảy ra đã biến nó thành địa ngục. Giờ đây chỉ còn rất ít những chiến binh còn sống sót trong thành phố.

Tresdin chính là người đứng đầu của binh đoàn Bronze Legion. Khi cuộc nổi dậy chống lại những kẻ xâm lăng bất thành, cô một mình đi qua những vùng đất để báo thù cho các tử sĩ, những người động đã hi sinh vì chiến tranh.

9. Những anh hùng đến từ Wailing Mountains

Không ai biết được họ trông như thế nào hay nhận dạng ra sao, nhưng theo ghi chép cách đây hàng nghìn năm thì họ là những người thuộc Humanoid. Đây là những vị anh hùng đã được thừa hưởng tinh hoa của trời đất và có được sức mạnh vô biên. Storm Spirit được sinh ra từ bão tố và sấm sét, trong khi đó Ember Spirit chính là ngọn lửa thuần khiết nhất, và Earth Spirit đại diện cho những gì tinh hoa nhất trên mặt đất.

Mặc dù vậy, Brewmaster là một ngoại lệ. Hắn có khả năng triệu hồi ra cả ba tinh linh trên khi cùng lúc hấp thụ ba sức mạnh này.

10. Đế chế của Xhacatocatl

Nơi đây là nơi đã huấn luyện ra Bloodseeker. Strygwyr là gã thợ săn được tuyển chọn thông qua một nghi lễ nghiêm khắc, Hound of the Flayed Twins. Hắn được phái đi từ đỉnh núi Xhacatocatl quanh năm bị bao phủ bởi sương mù, với nhiệm vụ săn tìm máu tươi. Để được thỏa mãn và trấn an, Flayed Ones cần đến cả một đại dương máu tươi.

Những gã thầy tế của chúng không xoa dịu được cơn khát ấy, thì chúng sẵn sàng hút cạn máu huyết của toàn bộ dân chúng của vương quốc trên núi ấy.Cũng chính vì thế, Strygwyr phải không ngừng xuống núi và tiến hành tìm kiếm máu tươi thỏa mãn cho cơn khát của những Flayers.

B. Những kẻ đến từ thế giới khác

Dưới đây là những vị anh hùng đến từ thế giới khác, nằm ngoài thế giới của Dota 2. Họ đến với đấu trường Dota 2 thông qua mỗi sự kiện khác nhau trong cuộc đời. Ví dụ Zeus bị vợ giận dỗi đẩy xuống dương gian, hay Ezalor muốn quy ẩn sau những tháng ngày rong ruổi trên lưng ngựa, Chaos Knight thì đuổi theo Ezalor mà lưu lạc vào nơi đây… Bạn thân mến, mỗi vị anh hùng là một số phận, định mệnh đã giúp họ cùng gặp nhau để mà chiến đấu. Và cũng chính định mệnh của họ đã viết tiếp những trang của Biên niên sử.

1. The Nation From Behind The Wall 

Người của vương quốc này có một đặc điểm dễ nhận biết, đó là có một cái đầu trọc và nhọn, khi trưởng thành sẽ mọc ra những chòm râu rất dài. Trông họ có rất nhiều nét tương đồng với tộc Keen Folk, nhưng thay vì sử dụng công nghệ, họ sở hữu những kĩ năng khác đáng ngạc nhiên hơn.

Ish’kafel là một người đến từ thế giới khác.

Ish’kafel, Darkseer là một anh hùng đến từ vương quốc này. Trước khi bị buộc phải rời bỏ quê hương để đến với Dota 2 World, ông đã từng là một tướng lĩnh đứng đầu vương quốc của mình.

2. The Titans & The Weavers

Xem tại: Chương 2 – Những kẻ tạo ra vạn vật

Sentient Stars

Những ngôi sao được tạo ra từ những tia sáng đầu tiên của vũ trụ, với ý thức sơ khai và một linh hồn thuần khiết nhất. Trong khi có những ngôi sao còn kéo dài giấc ngủ của mình trong những ẩn số không lời giải, thì có một số khác đã thoát ra được và nhìn thấy con đường mà chúng sẽ đi.

Phượng hoàng lửa chính là một trong những vì sao giáng thế.

Phoenix là một trong các Sentient Stars được khai sinh từ những ngày đầu hình thành vũ trụ. Khi cuộc chiến giữa các Ancient nổ ra, cũng là lúc mà Icarus thức giấc và tham gia vào cuộc chiến.

3. The Fundamentals 

Xem thêm: Chương 3 – Bộ tứ nguyên tố

Những linh hồn tinh khiết đại diện cho những sức mạnh của vũ trụ. Họ là những kẻ có thể đi lại giữa các hành tinh mà không chịu bất cứ sự ràng buộc nào. Ban đầu họ là những sức mạnh được thống nhất trong một nơi gọi là khối Unity, nhưng sau đó, bốn linh hồn bên trong khối cầu đã bị chia cắt trong sự kiện The Shattering or The Schism.

Có tài liệu cho rằng đó là khi Elder Titan muốn tạo ra bốn nguyên tố để tạo nên thế giới, nhưng cũng có nơi nói rằng ông đã vô tình đánh rơi tia lửa của mình vào khối Unity để rồi vô tình giải thoát cho bốn linh hồn này. Không ai có thể chứng minh được thông tin của một trong hai nguồn di thư kia là chính xác.

Io, the Guardian Wisp từng được ví như con mắt của thần linh.

Nessaj, the Chaos Knight đại diện cho Fundamental of Chaos (Nguyên tố hỗn mang) và luôn luôn phải chạy khắp vũ trụ để bắt kịp Fundamental of Light (Nguyên tố ánh sáng).

Io, the Guardian Wisp là một Nguyên tố cổ xưa, đại diện cho sự liên kiết và tách rời. Có khả năng kết nối và tạo một sợi dây liên kết các nguyên tố khác lại, Io có đóng góp không nhỏ trong sự liên kết giữa vạn vật.

Enigma là một loại lực hấp dẫn và đại diện cho lực chân không. Lai lịch và tiểu sử của hắn vẫn còn rất bí ẩn.

The Keeper of the Light  Fundamental of Light, được cho là kẻ đầu tiên thoát ra khỏi nhà tù của các Primordial. Tuy nhiên, ông thường được gọi là “Đứa trẻ của Schism” bởi chính Elder Titan và cũng là anh của Chaos Knight.

4. The Ascendants/The Transcendencies

Một nhóm nhỏ không sinh ra từ thế giới này, không có một cơ thể vật lí bình thường và có cuộc sống hoàn toàn tách biệt với các loài khác. Cơ thể đã bị phân rã nhưng những gì còn lại lại hoàn toàn thanh khiết.

The Spectre được cho là một Ascendant hoặc một Transcendency, dựa vào những lời nói của ả.

5. Planeswalkers

Planeswalkers là một thuật ngữ để chỉ đến những anh hùng có khả năng đi từ nơi này đến nơi khác, từ hành tinh này qua hành tinh khác – “Planeswalkers”. Có một số nơi nói rằng những kẻ được gọi với cái tên như vậy có lẽ là cùng một loài, nhưng dường như không phải.

Barathrum – Planeswalkers tiêu biểu.

Barathrum là một Planeswalkers tiêu biểu khi mà hắn có khả năng đi đến mọi nơi nhờ một kết nối ấn chú được tạo ra giữa điểm đến và nơi hắn sống. Mecurial cũng có khả năng đi xuyên không gian. Ả có thể đi đến bất cứ hành tinh nào mà ả muốn, chỉ cần ở đó có một hình bóng của ả. Các Fundamentals là một trong những thành tố khởi xây dựng nên vũ trụ nên chắc chắn họ cũng có khả năng này.

6. Element of Disharmony/Planeswalker

Một Planeswalker khác.

The Tormented Soul cũng là một hero có khả năng đi xuyên các hành tinh. Hắn từng được coi là bạn đồng hành của Spirit Breaker. Ngoài ra, tại sao hắn lại đi đến các hành tinh đó vẫn còn là một bí ẩn.

7. Creatures of Claszureme

Những ai đã đi vào Claszureme sẽ phải trải qua nghi lễ có tên Acolytes of Clasz, và hậu quả là người đó sẽ bị lấy đi đôi mắt nhưng lại có khả năng bóp méo thời gian. Bên cạnh đó, những kẻ từ đó trở về cũng sẽ thay đổi hình thái chỉ còn một cái miệng với nước da màu xanh tím.

Một kẻ đã quá quen thuộc trong thế giới Dota 2.

Darkterror là một vị khách đến từ nơi này, người tham gia trận chiến sau khi gánh chịu hậu quả ở Claszureme.

8. The Race on the Rim

Một loại sinh vật cổ xưa với cơ thể dường như được tạo ra từ đá và có một đôi cánh. Những sinh vật này sinh sống trong rìa của một thiên hà.

Người bảo vệ cuối cùng của The Race on the Rim.

Outworld Devourer chính là kẻ bảo vệ cuối cùng của thiên hà này và đồng thời cũng có khả năng đi qua các hành tinh. Bên cạnh đó, Morphing, Zeus, Nerif cũng được cho là các Planeswalker.

C. Những chủng tộc dưới lòng đại dương

1. The Slithereen

Các Slithereen là một quần thể nhóm sinh vật, các loài ở dưới nước, một số người trong số họ đã liên kết lại với nhau để tạo thành đội quân Slithereen Guard. Đội quân này bảo vệ thành phố ngầm dưới lòng đại dương sâu thẳm.

Đội quân Slithereen Guard và Slithice.

Trong số những con người của chủng tộc này thì có một nhóm nhỏ có hình dạng gần gũi với người nhất, đó là các Nagas. Điều này thường làm cho người ta lầm tưởng họ là các Slithereen, nhưng thực chất họ ở tầng lớp cao hơn một chút, dù cả hai đều có trách nhiệm bảo vệ Deeps One. Trong khi các Slithereen Guard không thể thở được trên cạn thì các Naga lại làm được điều đó.

Naga the Slithice

“Ta cất lên bài hát của chiến tranh.”

Giữa những chiến binh Slithereen Guard, mỗi khi bắt đầu một cuộc chiến họ đều kính cẩn hô lên khẩu hiệu : No Slithereen may fail. Những từ ngữ này cho thấy tinh thần làm việc tuyệt đối nghiêm túc và đầy trách nhiệm của các Slithereen, và nó cũng là lời đe dọa tới những con mồi bị họ săn đuổi.

Từng là chiến binh được tôn kính nhất trong bộ tộc của mình, Slithice đã chỉ huy một đội quân bao gồm các chiến hữu của mình qua nhiều năm, sử dụng giọng ca đáng sợ của mình như một thứ vũ khí hùng mạnh nhất, nàng cùng đội quân của mình bảo vệ Deep Ones và tài sản của thành phố ngầm chìm sâu dưới lòng đại dương.

Naga Siren bị trục xuất khỏi bộ tộc, cho đến khi tìm lại chiếc chén thánh.

Trong trận đánh cuối cùng của chiến dịch Crey, khi phải đối đầu với đạo quân Levianth, những kẻ sùng bái tà thần Maelrawn, đội quân của nàng đã liên tiếp gặp thất bại. Nhưng rồi, trải qua một cuộc chiến cuối cùng, dai dẳng và đẫm máu, nàng đã đẩy lùi được quân địch. Khi dọn dẹp chiến trường, họ phát hiện ra một chiếc chén thánh khảm ngọc độc nhất vô nhị đã bị đánh cắp. Đội quân của Slithice, giờ chỉ còn một số ít sống sót nhưng sự dũng cảm và hy sinh của họ lại chẳng được nhớ tới bởi sự việc tồi tệ này. Vinh dự của toàn bộ bọn họ đã bị hủy hoại.
Naga Siren bị trục xuất khỏi bộ tộc, cho đến khi nào nàng có thể tìm lại chiếc chén thánh bị mất trộm và hoàn trả nó như danh dự mà nàng đã mất đi, thứ mà không vàng bạc nào có thể so sánh được.

Naga thực sự cũng nói rất nhiều câu đá đểu các kẻ thù khi bị nàng ta giết. Nhưng nàng rất thương tiếc khi phải giết 2 người trong Dota 2, đó là OmniknightSlardar.

  • “What will your friends do without you, Omni Knight?” – (Các chiến hữu của anh sẽ làm được gì nếu không có anh, Omniknight?).
  • “Slardar, I hated to kill you” – (Tôi ghét khi phải giết anh, Sladar).

Bên cạnh đó cũng một số câu khác của Naga:

  • “What a diva” – (Thật đúng là một diva) Hoặc “Your song was no match for mine” – (Bài ca của mi chẳng là gì so với của ta) Nói với QOP sau khi giết.
  • “Where is your Abyssal god when you need him?” – (Vị thần vực sâu của mi ở đâu khi mi cần hắn?). Nói với Tidehunter sau khi giết.
  • “Even on land, I beat you” – (Kể cả trên mặt đất, ta vẫn có thể đánh bại ngươi) Nói với ES sau khi giết.

Slardar the Slithereen Guard

“Báu vật của những vực sâu tối tăm nhất là thứ mà ta phải bảo vệ.”

Slardar là một Slithereen, một trong số các Deep Ones, người mang sứ mạng bảo vệ những thành phố ngầm dưới lòng biển sâu và những bảo vật cổ xưa được chôn dấu tại đó. Với một chiếc đèn nhỏ phát ra trên đầu, Slardar luôn luôn cầm chắc cây đinh ba của mình tuần tra những vùng nước sâu nhất trong lòng biển khơi – nơi chứa đầy báu vật và của cải.

Slardar luôn luôn cầm chắc cây đinh ba của mình tuần tra những vùng nước sâu nhất trong lòng biển khơi.

Những tên trộm mò xuống vùng nước tối ấy, lầm tưởng rằng đó là thứ ánh sáng của kho báu trước mắt, bơi tới, và không bao giờ trở lại. Là một kẻ trung thành tuyệt đối, bản tính trầm mặc ít lời của Slardar khiến người ta hiểu nhầm rằng hắn chỉ là một tên lính. Nhưng sự thật rằng hắn có kiến thức phong phú về những bí mật dưới lòng đại dương.

Bản tính ít nói nên hắn chẳng nói chuyện mấy, dù là bạn hay thù. Ngoài trừ một kẻ, Riki. Khi hắn cast ultimate của mình lên Riki hắn sẽ hô một tràng như bắt được vàng.

  • “I’m onto you, Riki” – (Ta theo dõi mi, Riki).
  • “Riki’s here!” – (Riki ở đây).

2. Levianths

“Ngươi không thể lẩn trốn trong những đợt sóng thủy triều.”

Con đường hằng hải Drylander là một con đường hàng hải trọng yếu nằm giữa các đế chế, các quốc gia trở nên hưng thịnh hay suy vọng đều được quyết định bằng chính vùng biển này. Con đường hằng hải nằm dưới đáy biển nơi mà đế chế Meranthic Diaspora ngự trị bên dưới nó. Trong đế chế này có một bộ tộc là Levianths, những kẻ sùng bái tà thần Maelrawn. Levianths là bộ tộc có mối thù truyền kiếp với các Slithereen.

Thông qua các bản hiệp ước mong manh giữa tộc Mer và loài người, chúng ta có thể mường tượng được một phần nào đó quy mô của đế chế ngầm này, nền chính trị của họ có vẻ như vô cùng phức tạp và đầy những tranh chấp rắc rối. Chán ghét những xung đột vô vị của thể chế ấy, Leviathan, the Tide Hunter đã bỏ đi một mình và chỉ nguyện trung thành với một vị thần duy nhất của vực sâu, Maelrawn – Tentacular.

Leviathan, the Tide Hunter.

Hiện tại, Leviathan vẫn luôn tuần tra một mình giữa vùng nước cạn, tìm kiếm kẻ nào vô tình cản đường hắn, và thiên địch, không phải là Slithereen, mà là Kunkka, kẻ mà hắn luôn thù ghét một cách đặc biệt. Tuy nhiên, lí do vì sao mà cả hai trở thành kẻ thù của nhau, lại đã bị vùi dưới lòng biển sâu cùng với cuộc hải chiến kịch liệt năm nào.

Một số câu nói của Tidehunter:

  • “ Oh, the ravages of time.” – Ôi, sự tàn phá của thời gian (nói khi gank hụt)
  • “I could eat a seahorse (seagrape, sea cucumber, nautilus, jellyfish, mullet, tubeworm, porpoise, manatee, oarfish, shark, whale shark, blue whale, colossal squid, plesiosaur) – Ta có thể ăn blah blah (nói khi lên lv)
  • “I hang a coral wreath on your grave” – Ta sẽ treo một vòng hoa san hô lên mộ ngươi (nói khi giết 1 hero bất kì)
  • “I bring sad tidings: You’re dead!” – Ta mang đến cho ngươi 1 tin buồn: ngươi đã chết
  • “Ha ha ha! Women and children and Kunkka first.” – Ha ha ha! Phụ nữ, trẻ em, và Kunkka đầu tiên
  • “Kunkka, you’re not my admiral.” –Kunkka, ngươi không phải là thuyền trưởng của ta (nói khi gặp Kunkka)
  • “I’ll have my vengeance yet, Kunkka!” – Tao sẽ báo thù, Kunkka (nói khi bị Kunkka giết)

3. Nightcrawlers

slark_dota_2_art_95602_3840x2160

Gặp ngươi một lần, cắt ngươi hai lần.”

Ở dưới đại dương luôn có những đế chế hùng mạnh, để tồn tại và cùng nhau loại bỏ những thành phần bất hảo, họ đã chung tay thành lập một nhà tù nằm ở nơi sâu nhất của bảy đại dương, nơi mà ánh sáng mà một hình ảnh chỉ có trong tưởng tượng – nhà tù Dark Reef.

Đây là nơi mà những sinh vật biển tồi tệ nhất bị giam cầm bởi tội lỗi chống lại giống loài của chính mình: đó là những gã Slithereen nguy hiểm, những Deep Ones độc ác, giảo hoạt hay những Meranth phản bội.

Bị tống vào Dark Reef mà không rõ tội danh, Slark đã sống hơn nửa cuộc đời với không chút thân nhân hay lòng tốt. Cuộc sống tựa như đã chết rồi của hắn chợt lóe lên hi vọng khi hắn tình cờ nghe được kế hoạch vượt ngục của một nhóm tù nhân với cái tên Dark Reef Dozen, bao gồm mười hai kẻ lĩnh án tử.

Slark đã lợi dụng lúc hỗn loạn để che dấu, tẩu thoát và không bao giờ bị bắt lại.

Để chuẩn bị cho cuộc vượt ngục của chúng, chúng đã giữ kín kế hoạch của mình một cách hoàn hảo, giết chết bất cứ kẻ nào lần mò ra dấu vết – thế nhưng, không biết bằng cách nào, Slark vẫn cứ phát hiện ra, và “tự đặt” một chỗ cho mình trong cái kế hoạch đó.
Trong quá trình vượt ngục, mười hai kẻ bị bắt và hành hình nhưng, Slark, kẻ thứ mười ba chưa bao giờ được biết tới, đã lợi dụng lúc hỗn loạn để che dấu, tẩu thoát và không bao giờ bị bắt lại. Cho tới hiện tại, hắn vẫn là kẻ duy nhất thành công trốn thoát khỏi Dark Reef.Dưới đây là một vài câu nói của Slark khi giết được kẻ thù:

  • “You want to bleed me? I’ll bleed you” – (Ngươi muốn ta chảy máu? Ta sẽ làm mi phải chảy máu) Nói với Bloodseeker.
  • “Don’t track me down if you can’t finish the job” – (Đừng có truy lùng ta nếu mi không thể hoàn thành nó). Nói với Bounty Hunter.
  • “You think you’re deep, I’ll show you deep” – (Vực sâu còn có vực sâu hơn). Nói với Slardar.
    “I knew a Slithereen just like you doing hard time in Dark Reef” – (Tôi biết một Slithereen như anh đã làm việc rất vất vả ở Dark Reef). Nói với Sladar.
  • “Don’t listen to the critics, Naga, I love your voice” – (Đừng nghe bọn chúng, Naga, tôi yêu thích giọng ca của nàng).
  • “I’ve got your back, Tidehunter. I promise not to stab it” – (Tôi sẽ yểm trợ ngay sau lưng anh, Tidehunter. Tôi hứa sẽ không đâm nó đâu).

Chương VI: Keen Folk và giai thoại về các anh hùng

I. Keen Folk – Cái nôi của công nghệ trong Dota 2

Keen Folk là một bộ tộc tồn tại trong thế giới Dota 2 qua nhiều thế kỉ. Họ là những người có vóc dáng giống những người lùn, bé người và thường có râu. Họ công khai coi khinh ma thuật và cho rằng khoa học công nghệ mới là những phát minh vĩ đại nhờ trí óc thông minh có thể đánh bại hoàn toàn ma thuật. Các pháp sư cao tay ấn thường bị họ buông những lời nói giễu cợt và khinh bỉ.

Keen Folk – Một trong những đế chế hùng mạnh bậc nhất Dota 2.

Mặc dù là những kẻ khó ưa, nhưng người ta không thể phủ nhận sự tồn tại của tộc Keen Folk góp phần không nhỏ tạo nên thế giới Dota 2 ngày nay. Công nghệ của họ luôn đi trước thời đại và nhờ nó mà người ta biết cách khai phá những bí ẩn trong thế giới Dota 2.

Những hạm đội mà Kunka đã từng chiến đấu trên đó, những món vũ khí đặc biệt, những bộ áo giáp tối tân… Tất cả đều bắt nguồn từ bàn tay của những nhà khoa học tộc Keen bé nhỏ mà thông minh. Mặc dù vậy, do họ quá bảo thủ và quá coi khinh phép thuật nên đôi khi họ phải chịu những hậu quả không hề nhỏ.

Keen Folk và Olgodi là những đối thủ lâu đời.

Bên cạnh đó, tộc Keen còn có một thời gian dài cạnh tranh với tộc Olgodi. Họ đều là hai bộ tộc hùng mạnh nhất, cả hai đều có những anh hùng tiêu biểu cho riêng mình. Tộc Keen bao gồm 5 thành viên trong Dota 2: Tinker, Clockwerk, Sniper, Gyro và Alchemist. (Alchemist thực chất là ông già ngồi bên trên, còn thằng to con là thú cưỡi của nó). Ngay bây giờ, ta sẽ kể cho cậu nghe những câu chuyện về họ – những anh hùng của tộc Keen.

II. Sử thi về những vị anh hùng

Boush the Tinker

Từng là nhân vật chủ chốt trong các công trình nghiên cứu về giới hạn và quy luật của tự nhiên, Boush the Tinker đã thành lập một phòng thí nghiệm dưới lòng đất của Violet Plateau, nơi luôn mịt mù sương khói nhằm thực hiện các cuộc thí nghiệm kì lạ của mình. Những nhà khoa học ở đây luôn có suy nghĩ khinh bỉ các Pháp Sư vì đã mang lại những thương tổn cho thế giới.

Boush the Tinker đã thành lập một phòng thí nghiệm tại Violet Plateau.

Một ngày nọ, Boush cùng các Tinker khác trong phòng thí nghiệm đã tìm ra một cánh cổng bí ẩn, đầu bên kia của cánh cổng ấy là một lĩnh vực khác vượt xa sự nhận thức của người phàm. Tò mò, họ bước vào đó và chìm đắm vào thế giới mà chính họ đã khám phá ra. Tuy nhiên việc đó có rủi ro cực kì lớn, họ không biết rằng đó là mở đầu cho cơn ác mộng cho chính họ.

Trong một tai nạn tưởng như vô hại, phòng thí nghiệm bị nổ tan tành, chỉ còn Boush là kẻ sống sót.

Điều gì đến cũng phải đến, trong một tai nạn tưởng như vô hại, phòng thí nghiệm bị nổ tan tành. Các Tinker cũng bị giết chết trong vụ nổ đó ngoại trừ Boush, nhờ một phép màu nào đó đã thoát chết thành công. Nhờ vào tài trí và những công cụ máy móc mà gã mang theo, đồng thời cũng trở thành gã Tinker còn sống sót duy nhất sau thảm họa tại Violet Plateau.

 “Rattletrap, all your parts are out of stock!” – (Rattletrap, các bộ phận của mi đều không có sẵn để thay thế). Nói với Clock.

– “Letting me out of your sight was your first mistake, Sniper!” – (Để ta thoát khỏi tầm mắt của mi là sai lầm đầu tiên, Sniper). Nói với Sniper.

– “Gyro, that craft of yours has made you dizzy” – (Gyro, cái thứ mi làm ra đã làm mi mất phương hướng) – Nói với Gyro.

– “What sort of loon believes in Alchemy?” – ( Giờ này còn thằng ngốc tin vào thuật giả kim sao?). Nói với Alchemist.

– “Science: One. Nature’s Prophet: Nothing!” – (Khoa học: Số một. Nature’s Prophet: Vô nghĩa). Hoặc“Nature’s profit, your loss!” – (Phế vật của thiên nhiên, mi thua rồi). Nói với Nature’s Prophet.

 “Warlock, you should put down your spell book and pick up a textbook!” – (Warlock, mi nên vứt bỏ sách phép và cầm sách giáo khoa đi). Nói với Warlock.

Kardel Sharpeye the Sniper

“Why am I smiling? This is what trigger-happy looks like”.
(Tại sao ta cười ư? Nó là cái giống như tiếng súng hạnh phúc thôi).

Kardel Sharpeye sinh ra tại một nơi heo hút nằm sâu trong thung lũng núi Knollen. Tại đây, từ thuở xa xưa, cư dân ở đây đã sinh sống bằng cách săn bắn các sinh vật kỳ quái, thứ được gọi là Steepstalker, thường bò ngang qua các vách đá phía trên thông làng của họ. Họ giết chúng từ xa, sau đó thu thập thi thể tại nơi mà chúng rơi xuống.

Sharpeye là một trong số những xạ thủ giỏi nhất của cái bộ tộc kỳ lạ ấy, đối với hắn, súng đạn tựa như là một phần của cơ thể, và việc nhắm bắn cũng chỉ đơn giản như một cái chạm nhẹ.

Sharpeye là một trong số những xạ thủ giỏi nhất của cái bộ tộc kỳ lạ ấy.

Tuy vậy, Kardel Sharpeye the Sniper đã phải rời khỏi quê hương cùng các thân nhân, vì bị nguyền rủa bởi chính chính kỹ thuật bắn của mình. Và, hắn sẽ không được chào đón trở về, cho đến khi phần còn lại của lời tiên tri được thực hiện. Hắn sẽ trở thành một nhân vật vĩ đại trên chiến trường.

Hắn dùng súng nên thường rất khinh thường những hero sử dụng “vũ khí thô sơ” (cung và dao kiếm). Nên mỗi khi giết được một hero như này, hắn luôn cười tỏ ra khinh thường đối thủ:

– “Oh, feather bullets!” – (Ô. Đạn lông chim). Hoặc “Heh, crummiest gun I’ve ever seen” – (He he. Thứ vũ khí hạ đẳng nhất mà ta từng thấy).  Nói sau khi giết một hero dùng cung.

 “You pull a knife, I pull a gun” – (Mi rút dao, ta rút súng). Hoặc “Inconceivable!” – (Đùa anh à?). Nói sau khi giết được một hero dùng dao hoặc kiếm.

Rattletrap, the Clockwerk

“Some assembly required”.
“Các bộ phận đã được lắp ráp”.

Rattletrap, tương tự như hai người họ hàng xa Tinker và Sniper, cùng rất nhiều những đồng bào khác cũng thuộc tộc Keen Folk, đã tự bù đắp cho cái vóc dáng nhỏ bé của mình bằng trí tuệ. Là cháu nội của một người thợ sửa đồng hồ nhưng hắn đã thực sự thay đổi khi cho tới khi một cuộc chiến tranh kéo tới từ phía bên kia núi, phá hủy các ngôi làng và những cư dân vô tội ở đó.

Sau khi mai táng cha già trong đống đổ nát của làng, Rattletrap bắt đầu tiến hành công cuộc cải tạo, biến chính mình trở thành cỗ máy chiến tranh mạnh mẽ nhất mà xưa nay chưa từng có.

Hắn biến chính mình trở thành cỗ máy chiến tranh mạnh mẽ nhất mà xưa nay chưa từng có.

Hắn thề, sẽ không bao giờ bị tấn công khi chưa kịp phòng bị nữa, bằng cách sử dụng trí tuệ của mình để lắp ráp ra một bộ áo giáp Clockwerk hùng mạnh chạy bằng dây cót, thứ sẽ khiến cho tất cả những gã Kỵ sĩ đến từ xứ khác trông như những tên ngốc.

Có lẽ do cuộc sống của hắn không rời khỏi căn nhà cho đến khi chiến tranh tàn phá. Nên hắn chỉ nhớ tới nhân vật họ hàng của mình là Sniper và Tinker. Hắn luôn nhắc tới 2 người này dù trong lúc tấn công, lúc giết hoặc bị giết, lúc di chuyển hay là cùng phe.

– “Tinker, prepare for repairs” – (Tinker, chuẩn bị sửa chữa đi).

– “Who sniped who?” – (Ai bắn ai đây Sniper).

Một hero khác không cùng máu mủ mà hắn nhắc tới là một kẻ dùng hook. Đó là chàng béo Butcher.

 “Like my hook, Pudge?” – (Thích cái móc của ta không, Pudge?). Nói khi hook trúng Butcher.

Aurel Vlaicu the Gyrocopter

“They’re like ants from up here”
(Chúng chỉ như những con kiến khi nhìn từ trên này).

Sau khi cống hiến gần như cả đời cho chiến tranh, khởi nghĩa, bạo động hay cách mạng, gã quân nhân nổi danh Aurel cuối cùng cũng cảm thấy quá đủ. Gã mang theo một thứ đồ vật rất thú vị: Một cái sơ đồ chế tạo đã bị quên lãng từ lâu, một công thức chế tạo Gyrocopter, vật thể bay có người lái đầu tiên của thế giới Dota 2 mà không phụ thuộc vào ma thuật.

Aurel đã tìm ra công thức để tạo ra một chiếc Gyrocopter.

Với sự nỗ lực của mình, Aurel đã chế tạo thành công nó. Leo lên thành quả của mình, ông cảm thấy mình đang nâng lên, và sau vài động tác loạng choạng, cỗ máy bắt đầu bay một cách ổn định. Trong vòng một giờ, Aurel đã chao liệng và ngả ngớn cùng những cơn gió nhẹ, đồng hành cùng hải âu, và cảm thấy khó thở với những trải nghiệm của lần đầu tiên được bay.

Khi hoàng hôn tới gần, ông liền quyết định trở về căn cứ. Thế nhưng, đúng vào lúc này, cánh đuôi máy bay của ông bỗng dưng bị bắn thủng bởi một viên đạn pháo.

Sau khi thoát ra khỏi đống hài cốt của chiếc máy bay đã bị rơi tan tành, Aurel bơi về phía hòn đảo gần nhất trong tầm mắt, vừa lẩm bẩm nguyền rủa rằng con tàu bắn ra viên đạn pháo kia sẽ phải trả giá, vừa thu thập lại các mảnh vỡ. Vài ngày sau đó, Aurel về tới căn cứ và bắt tay vào chế tạo chiếc Gyrocopter mới, một loại máy bay có trọng tải lớn hơn, để có thể chuyên chở những thứ nguy hiểm hơn.

Một số câu nói của Gyro:

 “And they call me a buzzard!” – và người ta gọi ta là chim ó (một loài chim chuyên săn rắn để ăn thịt). Nói với Viper sau khi giết.

– “A hundred times my age and you’re still a fool!” – (Già gấp ta cả trăm lần mà ngươi vẫn chỉ là kẻ ngốc). Nói với Invoker sau khi giết.

– “Only enough room in these skies for one lunatic, Bats!” – (Chỉ có đủ phòng trên những bầu trời này cho một kẻ thôi, Bats). Nói với Batrider sau khi giết.

Razzil Darkbrew the Alchemist

“I’m the brains!” “And I’m the brawn”.
(Ta là trí não. Và ta là sức mạnh).

Sau hơn 20 năm tiến hành nghiên cứu cùng chuẩn bị, thuật luyện kim của hắn đã thất bại một cách thảm hại trước mặt mọi người, và bị nhốt ngay sau đó bởi những thiệt hại khủng khiếp mà thí nghiệm của hắn gây ra.

Tất nhiên, Razzil không từ bỏ ước mơ của mình, hắn vẫn luôn tìm cách vượt ngục để tiếp tục những thí nghiệm. Một ngày nọ, một gã Orge chuyển tới và trở thành bạn tù mới của hắn, Razzil phát hiện cơ hội của mình đã tới. Sau khi thuyết phục gã Orge nọ không ăn thịt mình, Razzil dùng nấm mốc và rong rêu mọc trên các phiến đá của nhà tù để chế thành một thứ dược liệu rồi tìm cách cho gã uống vào.

Razzil dụ gã Orge uống thức uống của mình.

Chưa đầy một tuần, liều thuốc nọ đã hoàn thành. Và sau khi gã Orge nọ uống nó, gã đột nhiên trở thành một cơn điên loạn không gì cản nổi, phá toang song sắt nhà tù và tất cả những gì dám cản đường, từ tường đá cho đến vệ binh. Rất nhanh, gã Orge và Razzil tẩu thoát đến khu rừng bên ngoài thành phố. Dù vết tích của sự phá hoại hiện ra suốt dọc đường, nhưng không hề có dấu hiệu họ bị truy đuổi.

Họ trở thành bạn đồng hành trên con đường làm cỏ thế giới.

Dù dính tác dụng phụ của bình thuốc, nhưng lạ thay gã Orge cục mịch kia bỗng trở nên bình thản, vui vẻ và thậm chí là háo hức khi nói chuyện với Razzil. Sau khi quyết định tiếp tục cộng tác với nhau, cả hai bắt đầu xuất phát để tìm kiếm các loại tài liệu phục vụ cho sự nghiệp luyện kim của Razzil.

Một số câu nói của Alchemist:

 “Clinkz, your bones were brittle. Shoulda eaten more spinach” – (Clinkz, xương của ngươi giòn quá. Lẽ ra ngươi nên ăn thêm rau chân vịt).

– “Pugna’s full of phosphorus? That makes sense” – (Pugna chứa đầy Phốt pho. Nó tạo ra cảm giác này).

Chương VIII: Tộc Oglodi – Những kẻ xưng bá một thời

1. Tộc Oglodi – Kẻ xưng bá một thời

Hôm nay, chúng ta sẽ cùng theo chân những ngọn gió đến với vùng cao nguyên  Druud, nơi mà thời tiết sẽ quyết định cuộc sống của con người nơi đây. Vùng đất này chính là nơi sinh sống của những người Oglodi.

Người Oglodi là những người có thân thể cường tráng và đồ sộ. Họ sở hữu một sức khỏe đáng ngạc nhiên với đôi mắt tráng dã, mũi trông khá giống củ khoai tây và cằm rất rộng. Đã từng có thời điểm mà nền văn minh của người Oglodi trở nên hùng mạnh đến độ họ bành trướng và xưng bá khắp các vùng đất quanh đó.

Người Oglodi – Những kẻ từng xưng bá ở thế giới Dota.

Về quân đội, họ sở hữu lực lượng Army of the Red Mist (giờ là Bloodmist Army) và Học viện Ultimyr. Pháp thuật, giả kim, tôi luyện vũ khí… ở bất cứ lĩnh vực nào họ cũng đạt được những thành công nhất định. Họ đã tận dụng thời tiết nơi đây để phát triển nền văn minh của mình lên những tầm cao mới.

Dù là một bộ tộc mạnh mẽ nhưng tộc Oglodi cũng gặp không ít khó khăn khi đối đầu với tộc Keen. Cả hai chính là những đối thủ truyền kiếp cách đây hàng ngàn năm.

Hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các anh hùng tiêu biểu của tộc Oglodi. Đó là: Lion, Axe, Disruptor, Naix và Warlock.

2. Các anh hùng của Oglodi

Disruptor the Stormcrafter

“Storms gather at my fingertips”.
“Giông tố sinh ra từ những ngón tay của ta”.

Tại điểm cao nhất của cao nguyên Druud, Disruptor là kẻ đầu tiên giải mã được bí mật của những cơn lốc mùa hè. Vài thế kỷ trở lại đây, những người tộc Oglodi vùng cao vẫn luôn phải đấu tranh để sinh tồn trên cái cao nguyên vô tận này. Bọn họ là những gì còn sót lại từ một nền văn minh vĩ đại, bọn họ sở hữu khả năng Stormcraft, vốn được tìm thấy và tập hợp lại từ những mảnh vỡ của nguồn tri thức đã bị mất mát mà đến chính họ cũng thông thể nào lí giải một cách hoàn toàn.

Disruptor là kẻ đầu tiên giải mã được bí mật của những cơn lốc mùa hè.

Dù địa vị vẫn còn rất nhỏ bé bên trong bộ tộc, nhưng Disruptor không bao giờ biết sợ hãi, hắn tìm tòi trong các kiến trúc đã bị lãng quên, trong những thư viện đã đổ nát, thậm chí là cả các xưởng chế tạo đã hoen rỉ. Và rồi, hắn tìm thấy thứ mà hắn cần rồi trở về bộ tộc.

Cải tạo lại cuộn dây được thiết kế từ thời xa xưa, Disruptor có được năng lực thao túng sấm sét, có khả năng triệu hồi ra điện ở bất cứ nơi nào mà hắn muốn,

Theo quan hệ, có vẻ hắn là anh em họ của Axe nhưng có vẻ không thân thiết lắm.

-“It had to be done, cousin” – (Đây là việc phải làm, người anh em), nói sau khi giết Axe.

Hắn tỏ ra rất thích chơi với Razor, Storm Spirit và Zeus.

 “Your skill with lightning was impressive, I admit” – (Kĩ năng điều khiển sấm sét của mi rất ấn tượng. ta thừa nhận điều đó). Nói sau khi giết Zeus.

– “Your stormcraft was strong, your defenses weak” – (Sét của mi rất mạnh nhưng phòng ngự lại quá yếu).

Nếu gặp hai kẻ này cùng team thì hắn cũng rất vui vẻ:

– “Razor, my fair weather friend” – (Razor, người bạn quý giá của ta). Hoặc “Zeus, the great weatherman himself” – ( Zeus, người điều khiển sấm sét vĩ đại).

– “Zeus, you bring the lightning, I’ll bring the thunder” – (Zeus, ngài mang những tia sét, tôi mang lại tiếng sấm).

– “Gonna enjoy working with you, Storm Spirit” – (Rất vui làm việc với anh Storm Spirit).

Lion, the Demon Witch

“To Hell and back”.
(Tới địa ngục và trở lại).

Lion là một bậc thầy trong nghệ thuật điều khiển Demon Witch cổ xưa và bí hiểm. Demon Witch là tên được đặt cho những Phù Thủy sử dụng các ma thuật liên quan đến quỷ dữ. Bản chất của bọn họ không tà ác, thậm chí bọn họ còn có thể điều khiển những ma thuật để chống lại giống loài của chúng. Lion đã cùng với những người anh em của mình chiến đấu cho ánh sáng và lẽ phải.

Nhưng do phải thường xuyên giao tiếp với những thứ tà ác như vậy đã khiến các Demon Witch rất dễ bị ‘thoái hóa biến chất’ và Lion cũng không phải ngoại lệ. Sau khi phạm phải những tội lỗi, linh hồn của Lion bị tổn thương sâu sắc và gã ác ma nọ ngay tức khắc liền từ bỏ hắn. Sau đó, cũng chính gã ác ma này đã thực hiện một cuộc giao dịch có lợi hơn với địch nhân của chính hắn.

Finger of Death, món vũ khí mà hắn đã lấy từ con ác ma nọ.

Trong cơn giận dữ, Lion đuổi theo con ác ma tới tận Địa Ngục, vặn nát nó, xé nó ra thành từng mảnh nhỏ, rồi chiếm lấy cánh tay của con ác ma lắp cho chính mình. Đó là gốc gác của cánh tay mà hắn sử dụng Nhất dương chỉ. Hắn không châm trọc ai khi giết chết họ, trừ một kẻ là Witch Doctor.

 “All we need now is a wardrobe” – (Tất cả những gì chúng ta cần bây giờ là một cái tủ quần áo), nói với Witch Dotor.

Hắn đặc biệt ghét sự phản bội.

– “When the demon betrayed me, I took its very arm. Imagine what I’ll do to a mere hero.” (Khi con quỷ phản bội ta, ta đã lấy cánh tay của nó. Thử tưởng tượng ta sẽ làm gì với một hero).

– “Betray me, and I’ll chase you into Hell.” (Phản bội ta và ta sẽ truy đuổi mi tới tận địa ngục).

N’aix the Lifestealer

“Lives for the taking”.
(Sống để bị cướp đi).

Là một sinh vật ăn nói lắp bắp, với cái tên N’aix. Nó bị the Vile Council nguyền rủa, phải chịu một cuộc sống dài lâu vô cùng để nhận lấy càng nhiều hình phạt càng tốt. Đây là sự trừng trị cho cái tội ăn cắp và lừa gạt của nó. Năm này qua năm khác, gông xiềng đeo trên người N’aix đã bị ăn mòn đến mức không còn hình dáng, tư duy của nó cùng không còn tỉnh táo, N’aix đã hoàn toàn quên mất những sự tình trước kia, cũng không còn muốn chạy trốn nữa.

Thế rồi một ngày, hắn bị bạn tù, một gã Pháp sư với nội tâm bị chất đầy bởi lòng thù hận ở hầm ngục của Devarque yếm bùa Infestion với mục đích biến N’aix trở thành công cụ để hắn trốn chạy. Nhưng hoàn toàn ngược lại những gì gã Pháp sư kia mong muốn. N’aix bừng tỉnh từ cơn mê với một tình trạng điên cuồng và chỉ nghe theo một âm thanh vang vọng từ trong đầu óc của nó khiến nó phải chạy trốn.

Trốn chạy khỏi chính bản thân mình, hắn đã cầm tù chính linh hồn hắn.

Hiện tại, Lifestealer vẫn đang mang theo những chiếc xiềng xích đã bị hủy hoại từ lâu nọ, tựa hồ muốn nói cho cả thế giới rằng không ai đủ sức để giam cầm hắn. Nhưng đồng thời, ở sâu tận trong lòng, dường như hắn vẫn cho rằng mình là một phạm nhân. Hai ý thức cùng tồn tại trong một thân thể – một sinh vật không tên hiểm ác xảo quyệt và một thanh âm của Ông Chủ luôn cho nó cái cớ hành động.

Hắn được gọi là Oglodi bởi Bristleback.

 “The Oglodi, they don’t die easy, I will give em that” – (Người Oglodi, chúng không bao giờ chết dễ dàng, ta mang cho chúng điều đó).

Một vài câu nói khi hắn giết được một địch thủ:

– “Pudge, so much life to steal” – (Pudge, quá nhiều sinh mệnh để ăn cắp).

– “Dirge, your life isn’t worth a song” – (Dirge, cuộc sống của mi chẳng đáng một bài hát).

– “Oh, Puck, I wanted to tear your wings off while you were still alive” – (Oh Puck, ta đã muốn xé nát đôi cánh của mi trong khi mi còn đang sống).

 “Oh Axe, so full of life: Delicious!” – (Oh, Axe, sinh mệnh tràn đầy: Ngon tuyệt).

– “Nature’s Prophet…bleh…your life tastes like sap!” – ( Nature’s Prophet, bleh… máu của mi có vị như nhựa cây vậy).

– “Tidehunter…I love a bit of raw fish now and again” – (Tidehunter, ta rất thích ăn sushi cá tươi bây giờ).

– Lich, stealing your life gave me an ice headache!” – (Lich, lấy sinh mệnh của mi làm ta đau đầu quá).

– “Mmm, Viper…tastes like chicken” – (Viper có vị như thịt gà). Câu này có nguyên nhân là khi ăn rắn, mọi người hay bảo thịt rắn có vị như thịt gà.

Khi hắn sử dụng Infest lên một Hero hắn sẽ nói:

 “Thanks for the ride” – (Cám ơn vì cho quá giang).

– “Mind if I join you” – (Có phiền không nếu ta tham gia với cậu?).

Mogul Khan the Axe

“No business but war. No family but death. No mercy but the grave!”.

“Không có thương trường, chỉ có chiến trường. Không có gia đình, chỉ có cái chết. Không có lòng thương, chỉ có bia mộ!”.

Từ gã chiến binh trong quân đoàn Red Mist (Sương Đỏ), Mogul Khan đã xác định mục tiêu của mình là trở thành vị thủ lĩnh của quân đoàn này. Trải qua hết trận chiến này đến trận chiến khác, hắn dùng những chiến thắng đẫm máu để khẳng định giá trị và khả năng của mình.

Kẻ thống trị tàn bạo của Red Mist.

Trải qua 7 năm của chiến dịch Thousand Tarns, hắn tự vinh danh mình bằng những cuộc tàn sát đẫm máu, khiến danh tiếng của hắn trở nên chói sáng hơn bao giờ hết. Thế nhưng, cùng lúc đó, đồng đội của hắn cũng đang ngày một ít dần.

Hiên ngang và kiêu hãnh – đó là Axe.

Vào cái đêm chiến thắng cuối cùng, Mogul Khan tuyên bố hắn chính là vị tướng quân mới của quân đoàn Red Mist, cũng tự phong cho mình danh hiệu “Axe”. Thế nhưng, quân đội của hắn đã chỉ còn mình hắn, rất nhiều người đã tử vong trong chiến trận, nhưng càng nhiều người khác lại đã chết dưới chính lưỡi búa của Axe.

Axe là điển hình của một chiến binh kiêu hùng, luôn tin tưởng vào sức mạnh của bản thân nhưng lại coi thường kẻ khác. Hắn nói rất nhiều khi giết được một kẻ thù. Dưới đây là một số câu khi hắn giết được mục tiêu.

 “You were handsome like Axe. Axe doesn’t like that” – (Ngươi đẹp trai như Axe. Axe không thích điều đó). Hoặc “We are blood, true. But most of yours came out” – (Chúng ta là máu mủ, đúng, nhưng hầu hết dòng máu của mi đã mất rồi). Nói khi giết Disruptor.

 “Blade versus book. Blade wins” – ”Kiếm và Sách. Kiếm thắng!” hoặc “Axe hates to kill Oglodi, but it must be done” – (Axe ghét phải giết người tộc Oglodi, nhưng đây là điều phải làm!). Nói sau khi giết Warlock.

Demnok Lannik the Warlock

warlock_demnok_lannik_dota_2_art_94246_3840x2160

“My grimoire opens again to a new page”.

“Quyển sách ma thuật của ta lại mở sang một trang mới”.

Là người đứng đầu của Arcane Archives tại Ultimyr Academy, Demnok Lannik có thú vui sưu tầm sách quý. Chỉ cần nghe thấy bất cứ tin đồn nào về nơi mà quyển sách ghi lại những truyền thuyết nguyên sơ đang bị cất giấu, hắn sẽ lập tức lên đường mà không hề để ý đến an toàn của bản thân.

Hắn bắt đầu nghiên cứu cách sử dụng ma thuật, với một niềm đam mê y hệt như hắn đã từng đam mê sưu tầm sách cổ. Và rồi, hắn trở thành Warlock hùng mạnh nhất sau một thời gian ngắn hơn so với hầu hết các học viên khác.

Ngay sau đó, Demnok Lannik đã tự khắc cho mình một cây Ma trượng Bóng Đêm. Tiếp đến, hắn triệu hồi và phong ấn vào đó một linh hồn đến từ Outer Hells. Với mong muốn rằng một ngày kia, mình sẽ phục hồi được toàn bộ những quyển sách ma pháp đã bị mất mát, Demnok Lannik bắt đầu sáng tác ra quyển Black Grimoire của chính mình.

Đây là một kẻ tự kỉ ngang Invoker. Hắn không nói chuyện với bất cứ hero nào và chỉ quan tâm đến 3 thứ: Cây ma trượng, quyển sách ma thuật và con Golem của hắn.

Bình luận
Loading...